Trần Đình Tân 陳廷賓, Hà Trì ♂
Trần Đình Tân 陳廷賓 (26/11/1893 - 23/11/1979) còn có tên là Trần Hữu Liệp, tự Lữ Tiên, hiệu Hà Trì 荷池, sinh tại thôn Cảnh Vân tổng Dương An phủ Tuy Phước, nay là thôn Cảnh An xã Phước Thành huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định, con ông Tú tài Trần Hữu Nham tự Trinh và Quan viên mẫu Lê Thị Tâm. Ông Tú Trinh từng dựng cờ chống Pháp tại núi Thơm trong thôn Cảnh Vân vào năm 1886, được Bình Tây nguyên soái Mai Xuân Thưởng cử làm Tán tương Quân vụ.
Ông nổi tiếng thông minh từ nhỏ. Năm 17 tuổi thi đỗ học sinh. Năm 22 tuổi cùng với anh ruột là Trần Trọng Giải dự thi hương tại trường Bình Định, khoa Ất Mão (1915) ông trúng cử nhân thứ 11/18, ông Giải trúng tú tài 27/36. Cuối năm 1919, sau khi chánh thất Bùi Thị Tư thất lộc, ông được bổ làm Hành tẩu bộ Học. Năm 1928, ông được bổ làm Hậu bổ tỉnh Bình Thuận. Trong thời gian ở Bình Thuận, ông được hai lần quyền Tri phủ Tuy Phong, Hàm Thuận và thăng Kinh lịch (1932).
Năm 1921, ông kết duyên cùng trưởng nữ của Tri phủ Đào Trọng Trấp (ông này là cháu kêu văn hào Đào Tấn bằng chú ruột) là Đào Thị Biêm tự Ngọc Mai hiệu Dược Thạch. Bà chung sống với ông trong thời gian ở Huế và Bình Thuận (qua 7 lần sinh chỉ được một gái một trai trưởng thành. Anh Trần Đình Phan là con của bà này). Bà thất lộc tại Bình Thuận vào năm 1930, chôn tạm xứ người, ba năm sau mới cải táng về quê ở núi Thơm. Năm 1933, ông kết duyên cùng bà Nguyễn Thị Tiếp (bà sinh được 3 gái, 3 trai, trong đó có tiến sĩ Trần Đình Sơn từng là viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học New York). Cũng trong năm này ông được thăng bổ làm Tri huyện huyện Hoài Ân thuộc tỉnh Bình Định.
Năm 1941, hoán bổ làm Tri huyện huyện Đồng Xuân tỉnh Phú Yên. Cuối năm 1942 được thăng bổ làm Tri phủ phủ Mộ Đức thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Cuối năm 1943 hoán bổ làm Tri phủ phủ Hoài Nhơn tỉnh Bình Định. Cuối năm 1944 được thăng bổ làm Thương tá Tỉnh vụ tỉnh Ninh Thuận (hàm ngang Án sát). Ninh Thuận là tỉnh nhỏ, có Tuần phủ là quan đầu tỉnh, Thương tá làm phó, quan hàm tùng Tam phẩm (3-2). Trong thời gian làm quan Nam triều, ông được ân thưởng Kim Tiền (1924), Long Bội tinh (lúc ở Bình Thuận), Cao Miên quốc vương bội tinh (lúc làm Tri huyện Hoài Ân), Kim Khánh (lúc làm Tri phủ Mộ Đức).
Cách mạng tháng Tám năm 1945, sau một tháng bàn giao mọi công việc hành chính, tư pháp và quản lý kho bạc của tỉnh tại Phan Rang, ông được chính quyền mới giới thiệu trở về quê hương tham gia công tác địa phương. Ông đã lần lượt được giữ các chức vụ: hội trưởng Hội phụ lão xã Phước Thành, hội trưởng Hội Liên Việt xã Phước Thành, trưởng ban vận động quỹ kháng chiến huyện Tuy Phước, hội trưởng Hội Liên Việt huyện Tuy Phước, uỷ viên trong Uỷ ban kháng chiến Hành chánh huyện Tuy Phước cho đến năm 1950 mới nghỉ việc vì bệnh mắt quá nặng, gần như mù.
Năm 1955, hoà bình lập lại, ông vào Sài Gòn chữa trị, mắt được sáng lại. Năm 1956, ông tham gia Hội Khổng học, được bầu làm hội trưởng Văn chỉ Tuy Phước, rồi hội trưởng Hội Khổng học tỉnh Bình Định cho đến đầu năm 1959. Năm 1959, đắc cử Dân biểu Quốc hội khoá 1959-1962 tại đơn vị Hoài Ân. Cuối năm 1962, ông được mời làm hội trưởng danh dự Hội Khổng học Bình Định (ông Mạc Như Tòng làm Hội trưởng). Từ ấy, ông ở hẳn tại Quy Nhơn, đem hết tâm trí và thời gian đầu tư vào sự nghiệp trước tác.
Ông tạ thế tại nhà số 250 đường Phan Bội Châu, thuộc thành phố Quy Nhơn. Hiện ông được thờ tại đây và tại Hà Trì tư đệ là từ đường chính ở chánh quán Cảnh Vân – Tuy Phước. Hàng năm làm lễ giỗ ông vào ngày mùng 3 tháng 10 âm lịch.
Sinh thời, ông trước tác rất nhiều, ngoài số đã thất lạc, hiện còn có:
1. Hà Trì thi đối liên văn tập bằng chữ Hán và chữ Nôm.
2. Hà Trì thảo bản bằng chữ Hán và chữ Nôm.
3. Điển cố tầm nguyên trích yếu bằng chữ Hán
4. Danh nhân kiệt tác tập biên bằng chữ Hán
5. Chư danh gia đối liên tập bằng chữ Hán
6. Biểu xuyên đối liên tập bằng chữ Hán
7. Biểu xuyên di cảo bằng chữ Hán và chữ Nôm
8. Văn tế bằng quốc ngữ
9. Y học cẩm nang tiểu lục bằng quốc ngữ
Bộ sách thuốc này gồm 7 quyển do ông trích dịch và biên soạn từ các bộ sách: Thạch thất bí lục, Nghiệm phương tân biên, Biện chứng kỳ văn, Thọ thế bảo nguyên, Vạn bịnh hồi xuân, Nam Dương tập yếu, Y truyền bí lục (của thầy Hai Đặng ở Vinh Thạnh), Vệ sinh trị yếu (của ông Cử Huỳnh Bá Văn), Hải Thượng y tông tâm lĩnh, các phương hay gia truyền v.v...
Các tác phẩm trên đều do các con ông bảo quản.
Điểm qua những tác phẩm ấy, đồ sộ về lượng, vô giá về phẩm, xứng đáng được người đời trân trọng. Về nhân cách phẩm giá, ông được người đương thời là Lê Bính nhận xét rằng: “ông giữ được nếp sống cần kiệm liêm chính, không nịnh trên hách dưới, không khuất quị dưới áp lực nào nên làm quan chậm được thăng thưởng và chậm được đề bạt giữ các chức vụ quan trọng”. Và được người đời sau viết trong Trần tộc gia phả rằng: “ông là người hiền lành, thật thà, điềm đạm; sống cần kiệm siêng năng mực thước; rất kính yêu ông bà cha mẹ, rất hoà thuận với anh chị em, rất thương yêu đùm bọc con cháu; nhiệt tình giúp đỡ người nghèo khó. Suốt đời học tập nghiên cứu không biết mệt mỏi, chỉ rời quyển sách 15 ngày trước khi tạ thế... Ông luôn gắn bó với quê hương, đóng góp ý kiến và tài lực với anh ruột là ông Tú Giải trong việc xây dựng Từ đường, xây dựng trường học, truyền bá Quốc ngữ, mở mang tri thức cho con em trong vùng, tu tạo đình miễu chùa chiền chợ búa cầu cống đường sá v.v... và trong việc tổ chức hoạt động từ thiện, cứu tế. Ông đã đóng góp được phần làm rạng rỡ cho tổ tiên, dòng họ, quê hương mình, là niềm tự hào của dòng họ và con cháu”.
Với bấy nhiêu ấy, nhà Nho, nhà thơ, nhà biên tập Hà Trì Trần Đình Tân xứng đáng nhận lời tán thán:
Đã nên lập đức lập ngôn Tiếng tăm cùng với nước non mãi truyền!
Trần Đình Tân 陳廷賓 (26/11/1893 - 23/11/1979) còn có tên là Trần Hữu Liệp, tự Lữ Tiên, hiệu Hà Trì 荷池, sinh tại thôn Cảnh Vân tổng Dương An phủ Tuy Phước, nay là thôn Cảnh An xã Phước Thành huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định, con ông Tú tài Trần Hữu Nham tự Trinh và Quan viên mẫu Lê Thị Tâm. Ông Tú Trinh từng dựng cờ chống Pháp tại núi Thơm trong thôn Cảnh Vân vào năm 1886, được Bình Tây nguyên soái Mai Xuân Thưởng cử làm Tán tương Quân vụ.
Ông nổi tiếng thông minh từ nhỏ. Năm 17 tuổi thi đỗ học sinh. Năm 22 tuổi cùng với anh ruột là Trần Trọng Giải dự thi hương tại trường Bình Định, khoa Ất Mão (1915) ông trúng cử nhân thứ 11/18, ông Giải trúng tú tài 27/36. Cuối năm 1919, sau khi chánh thất Bùi Thị Tư thất lộc, ông được bổ làm Hành tẩu bộ Học. Năm 1928, ông được bổ làm Hậu bổ tỉnh Bình Thuận.…
Danh sách bài thơ
- Bệnh trung tác 病中作 • Làm khi bệnh
- Biểu Trung từ vịnh 表忠祠詠 • Vịnh đền Biểu Trung
- Bộ vận Bạch Mai Phan Ngọc Hoàn “Thị biểu đệ” hoạ chi 步韻白梅潘玉環示表弟和之 • Hoạ vần thơ “Nói với em họ” của Phan Ngọc Hoan hiệu Bạch Mai
- Bộ vận Bình Phú tổng đốc mỗ “Lưu giản thi” hoạ chi kỳ 1 步韻平富總督某留柬詩和之其一 • Hoạ vần thơ “Thơ viết để lại cho bạn bè” của ông tổng đốc Bình Định, Phú Yên kỳ 1
- Bộ vận Bình Phú tổng đốc mỗ “Lưu giản thi” hoạ chi kỳ 2 步韻平富總督某留柬詩和之其二 • Hoạ vần thơ “Thơ viết để lại cho bạn bè” của ông tổng đốc Bình Định, Phú Yên kỳ 2
- Bộ vận Hồ Đắc Hiệp “Tân nguyệt hý tác ký nữ y” hoạ chi 步韻胡得合新月戲作寄女醫和之 • Hoạ vần thơ “Ngày trăng non viết đùa gửi nữ y” của Hồ Đắc Hiệp
- Bộ vận Hồ Đắc Hiệp “Xuân dạ mộng dữ du” hoạ chi 步韻胡得合春夜夢與斿和之 • Theo vần thơ “Đêm xuân mơ cùng đi chơi” của Hồ Đắc Hiệp để hoạ
- Bộ vận Hương Tiều “Vân Nam tự lạc thành” hoạ chi 步韻香樵雲南寺落成和之 • Hoạ vần thơ “Chùa Vân Nam trùng tu lạc thành” của Hương Tiều
- Bộ vận lão sĩ Đỗ Xuân Khôi “Cung hạ Đồng Xuân doãn Trần đại nhân” hoạ chi 步韻老士杜春魁恭賀同春尹陳大人和之 • Hoạ vần thơ “Kính mừng quan lớn họ Trần làm tri huyện huyện Đồng Xuân” của lão sĩ Đỗ Xuân Khôi
- Bộ vận Lê Chí Kính “Nhất Tự sơn tức cảnh” hoạ chi 步韻黎至勁一字山即景和之 • Hoạ vần thơ “Tức cảnh núi Chữ Nhất” của Lê Chí Kính
- Bộ vận Phan mậu tài “Đề Thiên Mụ tự” hoạ chi 步韻潘茂才題天姥寺和之 • Theo vần thơ “Đề chùa Thiên Mụ” của tú tài họ Phan để hoạ
- Bộ vận Phan mậu tài “Hạ vũ tư hương” hoạ chi 步韻潘茂才夏雨思鄉和之 • Theo vần thơ “Mưa mùa hè nhớ quê” của tú tài họ Phan để hoạ
- Bộ vận Phan mậu tài “Trường An cảm cảnh” hoạ chi 步韻潘茂才長安感景和之 • Theo vần thơ “Cảm cảnh Trường An” của tú tài họ Phan để hoạ
- Bộ vận Phan mậu tài “Văn hữu đăng tiểu khoa đề ký” hoạ chi 步韻潘茂才聞友登小科題寄和之 • Theo vần thơ “Nghe tin bạn cưới vợ làm thơ gửi” của tú tài họ Phan để hoạ
- Bộ vận Phan Xuân Hiền “Lưu giản thi” hoạ chi 步韻潘春賢留柬詩和之 • Hoạ vần thơ “Thơ viết để lại cho bạn bè” của Phan Xuân Hiền
- Du dạ ngẫu hứng 遊夜偶興 • Đêm đi chơi chợt hứng thành thơ
- Đăng Cốc tự 登谷寺 • Lên chùa Hang
- Đề mai điểu sơn thuỷ Thái Công thuỳ điếu song bồn kỳ 1 題梅鳥山水太公垂釣雙盆其一 • Đề hai chậu cảnh vẽ cảnh núi sông chim mai, có Lã Vọng buông câu kỳ 1
- Đề mai điểu sơn thuỷ Thái Công thuỳ điếu song bồn kỳ 2 題梅鳥山水太公垂釣雙盆其二 • Đề hai chậu cảnh vẽ cảnh núi sông chim mai, có Lã Vọng buông câu kỳ 2
- Đề tùng lộc sơn thuỷ song bồn kỳ 2 題松鹿山水雙盆其二 • Thơ đề hai chậu vẽ cảnh núi sông thông nai kỳ 2
- Hành hạt kỷ sự kỳ 1 行轄紀事其一 • Ghi lại việc kinh lý kỳ 1
- Hành hạt kỷ sự kỳ 2 行轄紀事其二 • Ghi lại việc kinh lý kỳ 2
- Hoạ Bến Tre nữ sĩ “Lâm biệt thi tặng” nguyên vận kỳ 1 和𡍣椥女士臨別詩贈元韻其一 • Hoạ vần “Thơ tặng lúc từ biệt” của nữ sĩ Bến Tre kỳ 1
- Hoạ Bến Tre nữ sĩ “Lâm biệt thi tặng” nguyên vận kỳ 2 和𡍣椥女士臨別詩贈元韻其二 • Hoạ vần “Thơ tặng lúc từ biệt” của nữ sĩ Bến Tre kỳ 2
- Hoạ hậu bổ Lê Phổ chi Nga Sơn doãn lưu giản thi 和候補黎普之峨山尹留柬詩 • Hoạ thơ lưu giản của Lê Phổ chân hậu bổ đi làm tri huyện Nga Sơn
- Hoạ hoạn hữu Phạm Khắc Khoan chi “Xử nữ giải trào” thi 和宦友范克寬之處女解嘲詩 • Hoạ thơ “Trêu gái chưa chồng” của bạn làm quan là Phạm Khắc Khoan
- Hoạ Lý mậu tài thi 和李茂才詩 • Hoạ thơ tú tài họ Lý
- Hoạ Phan mậu tài thi 和潘茂才詩 • Hoạ thơ của tú tài họ Phan
- Hoạ Trần Đình Dị thi kỳ 1 和陳廷異詩其一 • Hoạ thơ Trần Đình Dị kỳ 1
- Hoạ Võ Đôn Hưng thi kỳ 1 和武敦興詩其一 • Hoạ bài thơ của Võ Đôn Hưng kỳ 1
- Hoạ Võ Đôn Hưng thi kỳ 2 和武敦興詩其二 • Hoạ bài thơ của Võ Đôn Hưng kỳ 2
- Hoạ Xuân Đài tức cảnh thi kỳ 1 和春臺即景詩其一 • Hoạ bài thơ tức cảnh Xuân Đài kỳ 1
- Hoạ Xuân Đài tức cảnh thi kỳ 2 和春臺即景詩其二 • Hoạ bài thơ tức cảnh Xuân Đài kỳ 2
- Hồi văn tứ tuyệt thi (Chỉ thập tự độc thành tứ tuyệt thi) - Cầm 迴文四絕詩(只十字讀成四絕詩)-琴 • Thơ tuyệt cú hồi văn (Chỉ mười chữ đọc thành thơ tứ tuyệt) - Đàn
- Hồi văn tứ tuyệt thi (Chỉ thập tự độc thành tứ tuyệt thi) - Kỳ 迴文四絕詩(只十字讀成四絕詩)-棋 • Thơ tuyệt cú hồi văn (Chỉ mười chữ đọc thành thơ tứ tuyệt) - Cờ
- Hồi văn tứ tuyệt thi (Chỉ thập tự độc thành tứ tuyệt thi) - Thi 迴文四絕詩(只十字讀成四絕詩)-詩 • Thơ tuyệt cú hồi văn (Chỉ mười chữ đọc thành thơ tứ tuyệt) - Thơ
- Hồi văn tứ tuyệt thi (Chỉ thập tự độc thành tứ tuyệt thi) - Tửu 迴文四絕詩(只十字讀成四絕詩)-酒 • Thơ tuyệt cú hồi văn (Chỉ mười chữ đọc thành thơ tứ tuyệt) - Rượu
- Hựu hoạ Tùng Thiện Vương “Xuân khuê”, vịnh cổ 又和從善王春閨詠古 • Lại hoạ bài “Khuê phòng mùa xuân” của Tùng Thiện Vương, vịnh cổ
- Hựu ký thám tộc thuộc 又寄探族屬 • Lại gửi thăm bà con trong họ
- Hựu tặng Dân Lợi lương y Hàn Từ Nguyên 又贈民利良醫韓慈元 • Lại tặng lương y Hàn Từ Nguyên ở nhà thuốc Dân Lợi
- Hựu thể 又体 • Lại theo thể bài trước
- Không để râu
- Mạn du 漫遊 • Dạo chơi
- Phúc hoạ Phan mậu tài “Tặng Thiên Mụ tự hoà thượng” 覆和潘茂才贈天姥寺和尚 • Hoạ trái ý bài “Tặng hoà thượng chùa Thiên Mụ” của tú tài họ Phan
- Phụng hoạ Bùi Hữu Thứ “Du Thuận An” kỳ 1 奉和裴有庶遊順安其一 • Vâng hoạ thơ “Chơi cửa Thuận An” của Bùi Hữu Thứ kỳ 1
- Phụng hoạ Bùi Hữu Thứ “Du Thuận An” kỳ 2 - Đại tấn thần yêu khách 奉和裴有庶遊順安其二-代汛神邀客 • Vâng hoạ thơ “Chơi cửa Thuận An” của Bùi Hữu Thứ kỳ 2 - Làm thay lời thần tấn mời khách
- Phụng hoạ Bùi Hữu Thứ “Du Thuận An” kỳ 3 - Đại tấn thần tiễn khách 奉和裴有庶遊順安其三-代汛神餞客 • Vâng hoạ thơ “Chơi cửa Thuận An” của Bùi Hữu Thứ kỳ 3 - Làm thay lời thần tấn tiễn khách
- Phụng hoạ Hồ Đắc Hiệp “Tịch trung ngẫu hứng” 奉和胡得合席中偶興 • Vâng hoạ thơ “Ngẫu hứng trong tiệc” của Hồ Đắc Hiệp
- Phụng hoạ Quang Lộc tự thiếu khanh Lâm Tăng Sum “Hồi hưu lưu giản” 奉和光祿寺少卿林增森回休留柬 • Kính hoạ bài “Viết để lại cho bạn bè lúc về hưu” của Quang Lộc tự thiếu khanh Lâm Tăng Sum
- Quá Hoài Ân cựu huyện sở cảm tác 過懷恩舊縣所感作 • Qua huyện sở cũ Hoài Ân cảm tác
- Tại kinh thời tiễn đồng niên hữu Bùi hành tẩu chi Tuy Phong doãn 在京辰餞同年友裴行走之綏豐尹 • Thủa tại kinh tiễn bạn học đỗ cùng khoa họ Bùi chức hành tẩu đi nhậm chức tri huyện huyện Tuy Phong
- Tặng Dân Lợi dược phòng (Mỗi cú quân hữu dược vị) 贈民利藥房(每句均有藥味) • Tặng tiệm thuốc Dân Lợi (Mỗi câu đều có tên mỗi vị thuốc)
- Thuận nghịch hồi văn thi 順逆迴文詩 • Bài thơ đọc xuôi đọc ngược
- Tôn chỉ mục đích Hội Khổng học
- Trúng số thi kỳ 2 中數詩其二 • Thơ trúng số kỳ 2
- Truy hoạ Tùng Thiện Vương “Xuân khuê” 追和從善王春閨 • Tìm hoạ bài “Khuê phòng mùa xuân” của Tùng Thiện Vương
- Tuế đán ký thám gia mẫu tịnh huynh đệ 歲旦寄探家母並兄弟 • Sáng mùng một đầu năm, gởi thăm mẹ cùng anh em
- Ức gia tiên nghiêm cảm tác 憶家先嚴感作 • Cảm tác khi nhớ cha đã qua đời
- Y chỉ 醫旨 • Ý chỉ nghề y
THÊM BÀI TRẢ LỜI:
Mục này để gửi các nội dung liên quan đến tác giả, bao gồm tiểu sử, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.
Đăng nhập để gửi bài trả lời cho tác giả này.