Trần Minh Tông 陳明宗, Trần Mạnh, 陳孟 ♂
Trần Minh Tông 陳明宗 (1300-1357) tên huý là Trần Mạnh 陳孟, là con thứ tư vua Trần Anh Tông, cháu ngoại của Bảo nghĩa vương Trần Bình Trọng, sinh ngày 21 tháng Tám năm Canh Tý (4-9-1300), mất ngày 19 tháng Hai năm Đinh Dậu (10-3-1357).
Thuở nhỏ, vua cha sợ ông khó nuôi như các hoàng tử khác nên Trần Nhật Duật đã nhận ông về nuôi nấng, dạy dỗ như con. Năm 15 tuổi, vua cha lên làm thượng hoàng, Trần Minh Tông được kế vị, trở thành vị hoàng đế thứ năm của triều Trần.
Trong 15 năm làm vua (1314-1329) và 28 năm làm thượng hoàng (1329-1357), Trần Minh Tông đã ban hành nhiều chính sách nhằm củng cố thêm cơ nghiệp nhà Trần. Ông tỏ ra cứng rắn hơn trong việc dùng sức mạnh để quét sạch các lực lượng quấy rối biên giới phía Tây và phía Nam, bảo đảm một bờ cõi yên ổn và vững mạnh. Trong quan hệ với nhà Nguyên, ông vẫn giữ thái độ mềm dẻo nhưng không nhân nhượng, chủ động chống mọi âm mưu lấn đất, nhòm ngó của họ. Về nội trị, Minh Tông chú ý đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, kêu gọi vương hầu trả lại ruộng đất lấn chiếm, giải quyết thoả đáng các vụ tranh chấp ruộng đất. Nho học được đề cao hơn, Phật học giảm dần uy thế. Minh Tông không xuất gia như các tiên đế, ông dặn dò các hoàng hậu cũng đừng đi tu. Dưới triều đại ông, truyền thống cởi mở, thân ái giữa vua tôi vẫn được duy trì. Hai thế hệ sĩ phu - lão thành và trẻ tuổi - đều được thi thố tài năng như nhau, nên sử sách đời sau bình luận rằng thời này “nhân tài đầy dẫy”. Tuy nhiên, về cuối triều Minh Tông, mâu thuẫn trong triều dần dần trở nên gay gắt, hình thành những phe phái đối lập, có lúc phát thành những vụ thanh toán tàn khốc đẫm máu. Nhà vua cũng không đủ sáng suốt nên chính ông cũng bị lôi kéo vào những vụ đó, để sau này ông đã phải hối hận.
Về thơ văn, mặc dù khi lâm chung, Minh Tông có sai đốt hết đi, nhưng ngày nay vẫn còn giữ lại được một số. Có thể nói, dưới những sắc thái khác nhau, thơ ông đã phản ánh trung thực tư tưởng, tình cảm và tính cách vủa ông. Qua thơ, Minh Tông tỏ ra là một vị vua có tinh thần chủ động, năng nổ với việc nước, ưu ái đối với các bề tôi giỏi, thương yêu dân chúng trong bờ cõi và cả dân chúng các nước láng giềng. Thơ Minh Tông hùnh hồn, phóng khoáng, nhưng cũng bình dị, tự nhiên, tinh tế. Nhà thơ không ngần ngại bộc bạch những tâm sự sâu kín, những lỗi lầm thời trẻ mà sau này ông mới nhận thức được.
Tác phẩm có Minh Tông thi tập 1 quyển, nay đã mất. Hiện chỉ còn 25 bài thơ chép rải rác trong Toàn Việt thi lục, Trần triều thế phả hành trạng, Việt âm thi tập, Đại Việt sử ký toàn thư và Nam Ông mộng lục. Ngoài ra còn một bài tựa cho tập Đại hương hải ấn thi của Trần Nhân Tông.
Trần Minh Tông 陳明宗 (1300-1357) tên huý là Trần Mạnh 陳孟, là con thứ tư vua Trần Anh Tông, cháu ngoại của Bảo nghĩa vương Trần Bình Trọng, sinh ngày 21 tháng Tám năm Canh Tý (4-9-1300), mất ngày 19 tháng Hai năm Đinh Dậu (10-3-1357).
Thuở nhỏ, vua cha sợ ông khó nuôi như các hoàng tử khác nên Trần Nhật Duật đã nhận ông về nuôi nấng, dạy dỗ như con. Năm 15 tuổi, vua cha lên làm thượng hoàng, Trần Minh Tông được kế vị, trở thành vị hoàng đế thứ năm của triều Trần.
Trong 15 năm làm vua (1314-1329) và 28 năm làm thượng hoàng (1329-1357), Trần Minh Tông đã ban hành nhiều chính sách nhằm củng cố thêm cơ nghiệp nhà Trần. Ông tỏ ra cứng rắn hơn trong việc dùng sức mạnh để quét sạch các lực lượng quấy rối biên giới phía Tây và phía Nam, bảo đảm một bờ cõi yên ổn và vững mạnh. Trong quan hệ với nhà…
Danh sách bài thơ
- Bạch Đằng giang 白藤江 • Sông Bạch Đằng
- Cam Lộ tự 甘露寺 • Chùa Cam Lộ
- Chẩn mạch 診脈 • Xem mạch
- Cúc 菊 • Hoa cúc
- Dạ vũ 夜雨 • Mưa đêm
- Dưỡng Chân Bình thôn tử Nhân Huệ vương trang 養真平村子仁惠王庄 • Trang trại của Nhân Huệ vương Dưỡng Chân Bình thôn tử
- Đề Đông Sơn tự 題東山寺 • Đề chùa Đông Sơn
- Độc Dịch 讀易 • Đọc Kinh Dịch
- Giới am ngâm 芥庵吟 • Bài ngâm về cái am cỏ
- Hạnh ngộ 幸遇 • May gặp
- Kim Minh trì 金明池 • Ao Kim Minh
- Nghệ An hành điện 乂安行殿 • Hành cung ở Nghệ An
- Nguyệt Áng sơn hàn đường 月盎山寒堂 • Nhà hàn đường ở núi Nguyệt Áng
- Tạ bắc sứ Mã Hợp Mưu, Dương Đình Trấn kỳ 1 謝北使馬合謀,楊廷鎮其一 • Cảm tạ sứ phương bắc Mã Hợp Mưu, Dương Đình Trấn kỳ 1
- Tạ bắc sứ Mã Hợp Mưu, Dương Đình Trấn kỳ 2 - Hoạ tiền vận 謝北使馬合謀,楊廷鎮其二-和前韻 • Cảm tạ sứ phương bắc Mã Hợp Mưu, Dương Đình Trấn kỳ 2 - Hoạ vần bài trên
- Tặng bắc sứ Tát Chỉ Ngoã, Văn Tử Phương 贈北使撒只瓦,文子方 • Tặng sứ phương bắc Tát Chỉ Ngoã, Văn Tử Phương
- Tặng Huyền Quang tôn giả 贈玄光尊者
- Tặng Trần Bang Cẩn hoạ tượng tính thi 贈陳邦謹畫象并詩 • Thơ kèm bức vẽ chân dung tặng Trần Bang Cẩn
- Thập nhất nguyệt quá bạc Vịnh Sơn hiểu trú 十一月過泊詠山曉住 • Tháng mười một qua hồ Vịnh Sơn, rạng sáng đậu thuyền lại
- Tống bắc sứ Tát Chỉ Ngoã, Triệu Tử Kỳ 送北使撒只瓦,趙子期 • Tiễn bắc sứ Tát Chỉ Ngoã, Triệu Tử Kỳ
- Tứ Phạm Tông Mại 賜范宗邁 • Ban cho Phạm Tông Mại
- Tứ thiếu bảo Trần Sùng Thao 賜少保陳崇韜 • Ban cho thiếu bảo Trần Sùng Thao
- Tương tịch ký Kim Sơn thiền sư kỳ 1 將寂寄金山禪師其一 • Sắp mất gửi Kim Sơn thiền sư kỳ 1
- Tương tịch ký Kim Sơn thiền sư kỳ 2 將寂寄金山禪師其二 • Sắp mất gửi Kim Sơn thiền sư kỳ 2
- Vãn Pháp Loa tôn giả đề Thanh Mai tự 挽法螺尊者題青梅寺 • Đề chùa Thanh Mai viếng Pháp Loa tôn giả
- Vãn Quán Viên Huệ Nhẫn quốc sư 挽觀圓惠忍國師 • Viếng quốc sư Huệ Nhẫn ở chùa Quán Viên
- Việt giới 越界 • Biên giới nước Việt
- Xuân nhật nhàn toạ 春日閒坐 • Ngày xuân ngồi chơi
THÊM BÀI TRẢ LỜI:
Mục này để gửi các nội dung liên quan đến tác giả, bao gồm tiểu sử, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.
Đăng nhập để gửi bài trả lời cho tác giả này.