Nguyễn Bính Nguyễn Trọng Bính ♂
Nguyễn Bính (13/2/1918 - 20/1/1966) tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh tại làng Thiện Vinh, huyện Vụ Bảng, tỉnh Nam Định. Ông mồ côi mẹ từ nhỏ, tự học ở nhà, bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi, được giải khuyến khích thơ của nhóm Tự lực văn đoàn năm 1937 với tập thơ Tâm hồn tôi.
Ông tham gia kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ, tập kết ra Bắc năm 1954, làm việc tại Hội văn nghệ Việt Nam, Ty văn hoá thông tin Nam Hà. Năm 1958, Nguyễn Bính làm chủ bút báo Trăm hoa. Nhiều tài liệu ghi ông mất ngày 20-1-1966 (tức ngày 29 Tết - không có ngày 30) tại Hà Nội. Tuy nhiên nhà văn Vũ Bão cho biết ông qua đời tại nhà riêng của một người bạn tên là Đỗ Văn Hứa, hiệu Tân Thanh, tại thôn Mạc Hạ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
Thơ Nguyễn Bính “chân quê”, giản dị, mộc mạc, nhẹ nhàng, trong sáng, và hồn nhiên như ca dao trữ tình. Ông viết về làng quê qua lăng kính tình cảm lãng mạn, biểu lộ một tình quê, một hồn quê chân tình và gần gũi. Giáo sư Lê Đình Kỵ có nhận xét về thơ Nguyễn Bính: “Nổi bật lên ở Nguyễn Bính là ca dao, ở cảm xúc lẫn tư duy, ở cả ý, tình, và điệu,...”
Tác phẩm tiêu biểu:
- Những bóng người trên sân ga (thơ, 1937)
- Lỡ bước sang ngang (thơ, 1940)
- Chân quê (thơ, 1940)
- Tâm hồn tôi (thơ, 1940)
- Hương cố nhân (thơ, 1941)
- Một nghìn cửa sổ (thơ, 1941)
- Sao chẳng về đây (thơ, 1941)
- Mây tần (thơ, 1942)
- Người con gái ở lầu hoa (thơ, 1942)
- Mười hai bến nước (thơ, 1942)
- Bóng giai nhân (kịch thơ, 1942)
- Tỳ bà truyện (truyện thơ, 1944)
- Ông lão mài gươm (thơ, 1947)
- Chiến dịch mùa xuân (thơ, 1949)
- Đồng Tháp Mười (thơ, 1955)
- Trả ta về (thơ, 1955)
- Gửi người vợ miền Nam (thơ, 1955)
- Trong bóng cờ bay (truyện thơ, 1957)
- Nước giếng thơi (thơ, 1957)
- Hồn trinh nữ (thơ, 1958)
- Tiếng trống đêm xuân (truyện thơ, 1958)
- Tình nghĩa đôi ta (thơ, 1960)
- Cô Son (chèo cổ, 1961)
- Đêm sao sáng (thơ, 1962)
- Người lái đò sông Vỹ (chèo, 1964)
Nguyễn Bính (13/2/1918 - 20/1/1966) tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh tại làng Thiện Vinh, huyện Vụ Bảng, tỉnh Nam Định. Ông mồ côi mẹ từ nhỏ, tự học ở nhà, bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi, được giải khuyến khích thơ của nhóm Tự lực văn đoàn năm 1937 với tập thơ Tâm hồn tôi.
Ông tham gia kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ, tập kết ra Bắc năm 1954, làm việc tại Hội văn nghệ Việt Nam, Ty văn hoá thông tin Nam Hà. Năm 1958, Nguyễn Bính làm chủ bút báo Trăm hoa. Nhiều tài liệu ghi ông mất ngày 20-1-1966 (tức ngày 29 Tết - không có ngày 30) tại Hà Nội. Tuy nhiên nhà văn Vũ Bão cho biết ông qua đời tại nhà riêng của một người bạn tên là Đỗ Văn Hứa, hiệu Tân Thanh, tại thôn Mạc Hạ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
Thơ Nguyễn Bính “chân quê”, giản dị, mộc mạc, nhẹ nhàng, trong sáng,…
Danh sách bài thơ
- Ái khanh hành
- Anh về quê cũ
- Áo anh
- Áo đẹp
- Bạc tình
- Bạch đào
- Bài thơ quê hương
- Bài thơ vần Rẫy
- Bao nhiêu đau khổ của trần gian, trời đã dành riêng để tặng nàng
- Bắt gặp mùa thu
- Bảy chữ
- Bên hồ
- Bến mơ
- Bến nước
- Bên sông
- Bóng bướm
- Bức thư nhà
- Bước đi bước nữa
- Bướm đi chợ
- Bướm nói điêu
- Cái quạt
- Cảm tác
- Cầu
- Câu đối Tết
- Cầu nguyện
- Cây bàng cuối thu
- Cha mẹ chồng lần lượt qua đời, Ngũ nương quyết định tìm chồng
- Chân quê
- Chẳng biết yêu nhau phải những gì
- Chỉ về phía đó
- Chiếc nón
- Chiều
- Chiều thu
- Chim thêu
- Chim với người
- Chờ
- Chờ mong
- Chờ nhau Lẳng lơ
- Cho tôi được khóc
- Chú rể là anh
- Chùa Hương xa lắm
- Chùa vắng
- Chung một lời thề
- Chuông ngọ
- Chuyến tàu đêm
- Chuyện tiếng sáo diều
- Cô dâu
- Cô hái mơ
- Cô lái đò
- Con tằm
- Cuối tháng ba
- Cưới vợ Nàng đi lấy chồng
- Diệu vợi
- Dối lòng
- Dòng dư lệ
- Dù rằng...
- Đàn tôi
- Đề tặng ảnh
- Đề thơ trên mảnh quạt vàng
- Đêm cuối cùng
- Đêm mưa
- Đêm mưa đất khách
- Đêm mưa nhớ bạn
- Đêm Phúc Am
- Đêm sao sáng
- Đoá hoa hồng
- Đôi khuyên bạc
- Đôi mắt
- Đôi nhạn
- Đồng Tháp Mười
- Đường rừng chiều
- Em về
- Gái xuân
- Gặp nhau
- Ghen
- Giả cách
- Giấc mơ anh lái đò
- Gió lạnh
- Gió mưa
- Giở rét Trời trở gió
- Giối giăng
- Giời mưa ở Huế
- Giọt nến hồng
- Giữa đường
- Gửi cố nhân
- Gửi người vợ miền Nam
- Hà Nội ba mươi sáu phố phường
- Hai buổi chiều
- Hai buổi chiều
- Hai lòng Em với anh
- Hái mồng tơi
- Hành phương Nam
- Hành phương Nam
- Hết bướm vàng
- Hết tháng ba
- Hoa cỏ may
- Hoa gạo
- Hoa rụng hai lần
- Hoa với rượu
- Hôn nhau lần cuối
- Hương cố nhân
- Khách lạ đường rừng
- Khăn hồng
- Khép cánh sương
- Khóc Nguyễn Nhược Pháp
- Không đề
- Không đề
- Không đề
- Không hẹn ngày về
- Không ngủ
- Lá mùa thu
- Lá thư
- Lá thư về Bắc
- Lại đi
- Làm dâu
- Làng tôi
- Lạy trời cấm cửa rừng mai
- Lỡ bước sang ngang
- Lỡ duyên
- Lơ đãng
- Lòng kỹ nữ
- Lòng nào dám tưởng...
- Lòng yêu đương
- Lửa đò
- Mai tàn
- Mắt nhung
- Màu tím Huế
- Mẹ
- Mơ chuyện thần tiên
- Mơ tiên
- Môi người phóng đãng
- Mong thư
- Một chiến công
- Một chiều say
- Một con sông lạnh
- Một đêm ly biệt
- Một lần
- Một mình
- Một nghìn cửa sổ
- Một thân đàn
- Một trời quan tái
- Mưa
- Mùa đông gửi cố nhân
- Mùa đông nhớ cố nhân
- Mưa xuân
- Mưa xuân
- Mùa xuân không dứt
- Mùa xuân xanh
- Mười hai bến nước
- Mỵ Nương
- Nam Kỳ cũng gió cũng mưa
- Nàng thành thiếu phụ
- Nàng Tú Uyên
- Nghĩ làm gì nữa
- Ngũ nương chờ đợi và phụng dưỡng cha mẹ chồng
- Ngũ nương gặp Thái sinh rồi bỏ đi
- Ngũ nương khuyên chồng đi thi
- Ngược xuôi
- Người cách sông rồi... tôi cách sông
- Người con gái ở lầu hoa
- Người hàng xóm
- Người mẹ Lòng mẹ
- Người tiên
- Ngưu Lang, Chức Nữ
- Nhà cô thôn nữ
- Nhà ga
- Nhạc xuân
- Nhầm Nhà tôi
- Nhặt nắng
- Nhiều
- Nhớ
- Nhớ
- Nhớ kỹ tên con nhé!
- Nhớ người trong nắng
- Nhỡ nhàng
- Nhớ Oanh
- Nhớ thương ai...
- Những bóng người trên sân ga
- Những bóng người trên sân ga
- Những người của ngày mai
- Những trang nhật ký
- Nỗi gian truân trên đường lên Trường An tìm chồng
- Nữ sinh
- Nửa đêm
- Nước mấy lần xanh
- Nuôi bướm
- Oan nghiệt
- Oanh
- Phẫn nộ
- Phố chợ đường rừng
- Phơi áo
- Qua nhà Gần, xa
- Quán lạnh
- Quan Trạng
- Quán trọ
- Quê tôi
- Rắc bướm lên hoa
- Rừng
- Rượu xuân
- Sao chẳng về đây?
- Tạ từ
- Tâm hồn tôi
- Tặng Kiên Giang
- Tạnh mưa
- Tay người
- Tây Thi
- Tết biên thuỳ
- Tết của me tôi
- Thái sinh cưới Ngũ nương
- Thái sinh đỗ Trạng nguyên và cưới con gái Thái sư
- Thái sinh gặp Ngũ nương
- Thái sinh lên kinh ứng thí, Ngũ nương ở nhà
- Tháng ba
- Thanh đạm
- Thẹn
- Thi vị
- Thơ gửi Trần Huyền Trân
- Thơ tôi
- Thơ xuân
- Thôi nàng ở lại
- Thoi tơ
- Thời trước
- Thư cho chị
- Thư gửi thày mẹ
- Thư gửi về Cha
- Thư lá vàng
- Thu rơi từng cánh
- Tiếng trống đêm xuân
- Tỉnh giấc chiêm bao
- Tình tôi
- Tình tôi Oan uổng
- Tơ trắng
- Tôi còn nhớ lắm
- Trách mình
- Trải bao nhiêu núi sông rồi
- Trắng
- Trở về quê cũ
- Trông sao
- Trong vườn cúc
- Trưa hè
- Trưa hè
- Trường huyện Bươm bướm ngày xưa
- Truyện cổ tích
- Từ đó về đây
- Túi ba gang
- Tương tư
- Tựu trường
- Tuyệt tác
- Vài nét Huế
- Vài nét rừng: Giữa đường
- Vài nét rừng: Nhà em Xa cách
- Vài nét rừng: Xanh
- Vẩn vơ
- Vâng
- Vì ai
- Vì em
- Viếng hồn trinh nữ
- Vịnh cụ Tiên Điền
- Vô duyên
- Vô đề (Thiên nhai hải giác nhất phiêu bình) 無題(天涯海角一漂萍) • Không đề (Chân trời góc bể chiếc bèo trôi)
- Vô đề (Từ buổi thu sang, sầu lá rụng)
- Vô tình
- Vớt hoa
- Vu quy
- Vũng nước
- Vườn hoang
- Vườn xuân
- Xa xôi
- Xây hồ bán nguyệt
- Xây lại cuộc đời
- Xây nhà máy
- Xóm cũ
- Xóm làng xanh
- Xóm Ngự Viên
- Xuân mới gửi bạn cũ
- Xuân nhớ
- Xuân tha hương
- Xuân thương nhớ
- Xuân vẫn tha hương
- Xuân về
- Xuân về nhớ cố hương
- Xuôi đò
THÊM BÀI TRẢ LỜI:
Mục này để gửi các nội dung liên quan đến tác giả, bao gồm tiểu sử, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.
Đăng nhập để gửi bài trả lời cho tác giả này.