荔子丹兮蕉黃, 雜餚蔬兮進侯堂。 侯之船兮兩旗, 度中流兮風泊之。 待侯不來兮不知我悲。 侯乘駒兮入廟, 慰我民兮不嚬以笑。 鵝之山兮柳之水, 桂樹團團兮石齒齒。 侯朝出流兮暮來歸, 春與猿呤兮秋鶴與飛。 北方之人兮為侯是非, 千秋萬歲兮侯無我違。 福我兮壽我, 驅厲鬼兮山之左。 下無苦濕兮高無乾, 粳稌充羨兮蛇蛟結蟠。 我民報事兮無怠其始, 自今兮飲于世世。

Lệ tử đan hề tiêu hoàng, Tạp hào sơ hề tiến hầu đường. Hầu chi thuyền hề lưỡng kỳ, Độ trung lưu hề phong bạc chi. Đãi hầu bất lai hề bất tri ngã bi. Hầu thừa câu hề nhập miếu, Uỷ ngã dân hề bất tần dĩ tiếu. Nga chi sơn hề Liễu chi thuỷ, Quế thụ đoàn đoàn hề thạch xỉ xỉ. Hầu triều xuất lưu hề mộ lai quy, Xuân dữ viên linh hề thu hạc dữ phi. Bắc phương chi nhân hề vi hầu thị phi, Thiên thu vạn tuế hề hầu vô ngã vi. Phúc ngã hề thọ ngã, Khu lệ quỷ hề sơn chi tả. Hạ vô khổ thấp hề cao vô can, Canh đồ sung tiện hề xà giao kết bàn. Ngã dân báo sự hề vô đãi kỳ thuỷ, Tự kim hề ẩm vu thế thế.

Trái vải đỏ chừ trái chuối vàng, Món thịt nhiều loại cùng món rau chừ được dâng vào từ đường của ngài. Thuyền rước ngài chừ cắm hai lá cờ, Tới giữa dòng chừ gặp gió giữ lại thuyền không cặp bờ được. Đợi ngài mà không thấy đến chừ không biết tôi buồn. Ngài cưỡi ngựa thần chừ nhập miếu, An ủi dân chúng tôi chừ ngài không nhăn mặt mà mỉm cười. Miếu ngài trên núi Ngỗng chừ bên dòng sông Liễu, Có cây quế cành lá kết tròn tròn chừ đá lởm chởm như răng. Ngài xuất triều chừ về đây lúc cuối đời, Xuân nghe vượn hú chừ thu ngắm hạc bay. Người phương bắc chừ phán xét phải trái với ngài, Dù ngàn thu, vạn năm chừ ngài không làm gì sai với chúng tôi. Ban phúc cho tôi chừ ban thọ cho tôi, Đuổi quỉ dữ chừ về mé trái núi. Ruộng thấp không khổ vì úng nước chừ ruộng cao không lo khô hạn, Lúa tẻ và lúa nếp đều đầy đủ, dư thừa chừ rắn, thuồng luồng thu mình ẩn núp. Dân chúng tôi báo cáo miếu xây xong chừ bắt đầu cúng tế không hề lười biếng, Từ nay chừ ngài uống rượu chúng tôi tế lễ đời đời.

荔子丹兮蕉黃, Lệ tử đan hề tiêu hoàng, Trái vải đỏ chừ trái chuối vàng,

雜餚蔬兮進侯堂。 Tạp hào sơ hề tiến hầu đường. Món thịt nhiều loại cùng món rau chừ được dâng vào từ đường của ngài.

侯之船兮兩旗, Hầu chi thuyền hề lưỡng kỳ, Thuyền rước ngài chừ cắm hai lá cờ,

度中流兮風泊之。 Độ trung lưu hề phong bạc chi. Tới giữa dòng chừ gặp gió giữ lại thuyền không cặp bờ được.

待侯不來兮不知我悲。 Đãi hầu bất lai hề bất tri ngã bi. Đợi ngài mà không thấy đến chừ không biết tôi buồn.

侯乘駒兮入廟, Hầu thừa câu hề nhập miếu, Ngài cưỡi ngựa thần chừ nhập miếu,

慰我民兮不嚬以笑。 Uỷ ngã dân hề bất tần dĩ tiếu. An ủi dân chúng tôi chừ ngài không nhăn mặt mà mỉm cười.

鵝之山兮柳之水, Nga chi sơn hề Liễu chi thuỷ, Miếu ngài trên núi Ngỗng chừ bên dòng sông Liễu,

桂樹團團兮石齒齒。 Quế thụ đoàn đoàn hề thạch xỉ xỉ. Có cây quế cành lá kết tròn tròn chừ đá lởm chởm như răng.

侯朝出流兮暮來歸, Hầu triều xuất lưu hề mộ lai quy, Ngài xuất triều chừ về đây lúc cuối đời,

春與猿呤兮秋鶴與飛。 Xuân dữ viên linh hề thu hạc dữ phi. Xuân nghe vượn hú chừ thu ngắm hạc bay.

北方之人兮為侯是非, Bắc phương chi nhân hề vi hầu thị phi, Người phương bắc chừ phán xét phải trái với ngài,

千秋萬歲兮侯無我違。 Thiên thu vạn tuế hề hầu vô ngã vi. Dù ngàn thu, vạn năm chừ ngài không làm gì sai với chúng tôi.

福我兮壽我, Phúc ngã hề thọ ngã, Ban phúc cho tôi chừ ban thọ cho tôi,

驅厲鬼兮山之左。 Khu lệ quỷ hề sơn chi tả. Đuổi quỉ dữ chừ về mé trái núi.

下無苦濕兮高無乾, Hạ vô khổ thấp hề cao vô can, Ruộng thấp không khổ vì úng nước chừ ruộng cao không lo khô hạn,

粳稌充羨兮蛇蛟結蟠。 Canh đồ sung tiện hề xà giao kết bàn. Lúa tẻ và lúa nếp đều đầy đủ, dư thừa chừ rắn, thuồng luồng thu mình ẩn núp.

我民報事兮無怠其始, Ngã dân báo sự hề vô đãi kỳ thuỷ, Dân chúng tôi báo cáo miếu xây xong chừ bắt đầu cúng tế không hề lười biếng,

自今兮飲于世世。 Tự kim hề ẩm vu thế thế. Từ nay chừ ngài uống rượu chúng tôi tế lễ đời đời.

 

Thêm bài trả lời:

Mục này để gửi các nội dung liên quan đến bài thơ, bao gồm bản dịch, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.

Thể loại:

Tiêu đề:

Nội dung:

Chú thích:

Nguồn tham khảo, trích dẫn (mỗi nguồn một dòng):

Bình luận nhanh 0

Bạn chưa đăng nhập, vui lòng nhập thêm thông tin liên hệ để gửi bình luận nhanh.

Chưa có bình luận nhanh nào