Vương An Thạch 王安石 ♂
Vương An Thạch 王安石 (1021-1086) tự Giới Phủ 介甫, hiệu Bán sơn lão nhân 半山老人, người Phủ Châu, Lâm Xuyên (tỉnh Giang Tây ngày nay), là một nhà văn lớn thời Bắc Tống và cũng là nhà kinh tế, chính trị lỗi lạc trong lịch sử Trung Quốc. Ông đỗ tiến sĩ năm 1041. Năm 22 tuổi (1042), ông được bổ dụng làm trợ lý cho quan đứng đầu thủ phủ tỉnh Dương Châu. Năm 1047, ông được thăng tri huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang. Năm 1051, ông được sử đến Thương Châu làm Thông phán. Hết nhiệm kỳ này ông được điều về kinh đô. Năm 1057, ông làm tri châu Thương Châu, tỉnh Giang Tô. Năm 1058 ông lại được điều đi làm quan hình ngục Giang Đông, trông coi việc tư pháp và hành chính Giang Nam. Đến cuối năm này, sau 17 năm làm quan địa phương, ông đã viết một bài trình lên Tống Nhân Tông, nêu rõ các trì trệ hiện thời của Bắc Tống và nêu lên các biện pháp khắc phục, áp dụng tân pháp để cải cách chế độ kinh tế-xã hội, quân sự của nhà Tống nhưng thất bại do sự chống đối của các tầng lớp quan lại đương thời. Trải qua một thời gian dài hai đời vua Tống Nhân Tông và Tống Anh Tông, sau khi về chịu tang mẹ 3 năm ở quê nhà, ông ở lại đó và mở trường dạy học.
Lúc còn trẻ, ông đã ưa chuộng Nho học và dốc lòng vào việc quan. Khi tuổi về già, do việc quan không đắc ý, nên ông đem lòng say mê nghiên cứu Phật học. Phật giáo lúc bấy giờ thiên về Thiền tông, có ảnh hưởng rất lớn đối với học thuật Trung Quốc đời Tống. Năm 1068, Tống Thần Tông lên làm vua, triều đình nhà Tống gặp phải tình huống khủng hoảng về quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội. Tống Thần Tông lên ngôi và triệu ông về kinh đô Biện Kinh, phong làm Hàn lâm viện Học sĩ. Năm 1069 ông được thăng Tham tri chính sự. Năm 1070, Vương An Thạch được cử làm Tể tướng, đã đề ra chính sách cải cách kinh tế, dựng ra phép “...Bảo Giáp, Bảo Mã làm dân bớt bị quấy, thêm giàu; làm quốc khố dồi dào, làm binh lực nước mạnh” nhằm cứu vãn tình thế khó khăn trong nước và sự uy hiếp của hai nước Liêu – Tây Hạ ở phía Bắc và Tây Bắc Trung Quốc, đồng thời có ý đồ xâm lược các nước phương Nam (trong đó có Đại Việt) để bành trướng lãnh thổ. Tân pháp của ông xét theo quan điểm của kinh tế học hiện đại gần với tính chất của một nền kinh tế kế hoạch hoá và phúc lợi công cộng. Để thủ tiêu việc đầu cơ tích trữ và độc quyền, ông cũng đã đưa ra một hệ thống giá cả cố định, đề ra việc trả lương bổng và trợ cấp hưu trí cho quan lại cũng như trợ cấp cho những người khó khăn v.v.
Vương An Thạch 王安石 (1021-1086) tự Giới Phủ 介甫, hiệu Bán sơn lão nhân 半山老人, người Phủ Châu, Lâm Xuyên (tỉnh Giang Tây ngày nay), là một nhà văn lớn thời Bắc Tống và cũng là nhà kinh tế, chính trị lỗi lạc trong lịch sử Trung Quốc. Ông đỗ tiến sĩ năm 1041. Năm 22 tuổi (1042), ông được bổ dụng làm trợ lý cho quan đứng đầu thủ phủ tỉnh Dương Châu. Năm 1047, ông được thăng tri huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang. Năm 1051, ông được sử đến Thương Châu làm Thông phán. Hết nhiệm kỳ này ông được điều về kinh đô. Năm 1057, ông làm tri châu Thương Châu, tỉnh Giang Tô. Năm 1058 ông lại được điều đi làm quan hình ngục Giang Đông, trông coi việc tư pháp và hành chính Giang Nam. Đến cuối năm này, sau 17 năm làm quan địa phương, ông đã viết một bài trình lên Tống Nhân Tông, nêu rõ các trì trệ hiện thời của Bắc…
Danh sách bài thơ
- Bắc Sơn 北山
- Bạc thuyền Qua Châu 泊船瓜洲 • Đỗ thuyền bến Qua Châu
- Bồ tát man - Tập cú 菩薩蠻-集句 • Bồ tát man - Góp nhặt
- Cát Khê dịch 葛溪驛 • Trạm Cát Khê
- Chung Sơn tức sự 鐘山即事 • Tức cảnh Chung Sơn
- Du Chung Sơn 遊鍾山 • Dạo núi Chung Sơn
- Đăng Phi Lai phong 登飛來峰 • Leo núi Phi Lai
- Đào Nguyên hành 桃源行 • Bài hát Đào Nguyên
- Đề phảng tử 題舫子 • Đề thơ trên thuyền
- Đề Tây Thái nhất cung bích 題西太一宮壁 • Đề vách cung Tây Thái nhất
- Điệp đề Ô Giang đình 疊題烏江亭 • Đề đình Ô Giang
- Giả Sinh 賈生
- Giang thượng 江上 • Trên sông
- Giao hành 郊行 • Đi đường quê
- Hà Bắc dân 河北民 • Dân Hà Bắc
- Hoa hạ 花下 • Trong vườn hoa
- Hoài Chung sơn 懷鍾山 • Nhớ Chung sơn
- Hoán khê sa 浣溪沙
- Mai hoa 梅花 • Hoa mai
- Mai hoa 梅花 • Hoa mai
- Mạnh Tử 孟子
- Minh Phi khúc kỳ 1 明妃曲其一 • Khúc ca về Minh Phi kỳ 1
- Minh Phi khúc kỳ 2 明妃曲其二 • Khúc ca về Minh Phi kỳ 2
- Mộc phù dung 木芙蓉
- Nam hương tử 南鄉子
- Ngộ Chân viện 悟真院 • Viện Ngộ Chân
- Ngư gia ngạo 漁家傲
- Nguyên nhật 元日 • Tết Nguyên Đán
- Nhâm Thìn hàn thực 壬辰寒食 • Tiết hàn thực năm Nhâm Thìn
- Nhập tái 入塞 • Vào ải
- Quế chi hương - Kim Lăng hoài cổ 桂枝香-金陵懷古 • Quế chi hương - Nhớ Kim Lăng xưa
- Sơ hạ tức sự 初夏即事 • Tức cảnh đầu hè
- Thảo đường nhất thượng nhân 草堂一上人 • Thượng nhân nơi nhà cỏ
- Thị Trường An quân 示長安君 • Gửi Trường An quân
- Thư Hồ Dương tiên sinh bích 書湖陽先生壁 • Viết trên vách Hồ Dương tiên sinh
- Thuỷ hoa 水花 • Hoa nước
- Tống Hoà Phủ chí Long An vi vũ 送和甫至龍安微雨 • Tiễn Hoà Phủ đi Long An có mưa nhỏ
- Tư Vương Phùng Nguyên 思王逢原 • Nhớ Vương Phùng Nguyên
- Tức sự 即事
- Xuân dạ 春夜 • Đêm xuân
- Xuân tuyết 春雪 • Tuyết xuân
- Xuất Định Lực viện tác 出定力院作 • Bài thơ được làm khi ra khỏi viện Định Lực
- Xuất tái 出塞 • Ra ngoài biên ải
THÊM BÀI TRẢ LỜI:
Mục này để gửi các nội dung liên quan đến tác giả, bao gồm tiểu sử, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.
Đăng nhập để gửi bài trả lời cho tác giả này.