Lưu Trọng Lư ♂
Lưu Trọng Lư (19/6/1912 – 10/8/1991) là một nhà thơ, nhà văn, nhà soạn kịch Việt Nam, quê làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình quan lại xuất thân nho học. Ông học đến năm thứ ba tại trường Quốc học Huế thì ra Hà Nội làm văn, làm báo để kiếm sống. Ông là một trong những nhà thơ khởi xướng Phong trào Thơ mới và rất tích cực diễn thuyết bênh vực “Thơ mới” đả kích các nhà thơ “cũ”. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Văn hoá cứu quốc ở Huế. Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động tuyên truyền, văn nghệ ở Bình Trị Thiên và Liên khu IV. Sau năm 1954, ông tiếp tục hoạt động văn học, nghệ thuật: hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1957, đã từng làm Tổng thư ký Hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam. Ông mất tại Hà Nội. Con trai thứ chín của ông, Lưu Trọng Ninh cũng là một đạo diễn phim khá nổi tiếng của Việt Nam. Ông đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2000.
Tác phẩm tiêu biểu:
Thơ
- Tiếng thu (1939)
- Toả sáng đôi bờ (1959)
- Người con gái sông Gianh (1966)
- Từ đất này (1971)
Sân khấu
- Nữ diễn viên miền Nam (cải lương)
- Cây thanh trà (cải lương)
- Xuân Vỹ Dạ (kịch nói)
- Anh Trỗi (kịch nói)
- Hồng Gấm, tuổi hai mươi (kịch thơ, 1973)
Văn xuôi
- Người sơn nhân (truyện, 1933)
- Chiếc cáng xanh (truyện, 1941)
- Khói lam chiều (truyện, 1941)
- Mùa thu lớn (tuỳ bút, hồi ký, 1978)
- Nửa dêm sực tỉnh (hồi ký, 1989)
Lưu Trọng Lư (19/6/1912 – 10/8/1991) là một nhà thơ, nhà văn, nhà soạn kịch Việt Nam, quê làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình quan lại xuất thân nho học. Ông học đến năm thứ ba tại trường Quốc học Huế thì ra Hà Nội làm văn, làm báo để kiếm sống. Ông là một trong những nhà thơ khởi xướng Phong trào Thơ mới và rất tích cực diễn thuyết bênh vực “Thơ mới” đả kích các nhà thơ “cũ”. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Văn hoá cứu quốc ở Huế. Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động tuyên truyền, văn nghệ ở Bình Trị Thiên và Liên khu IV. Sau năm 1954, ông tiếp tục hoạt động văn học, nghệ thuật: hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1957, đã từng làm Tổng thư ký Hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam. Ông mất tại Hà Nội. Con trai thứ chín của ông, Lưu Trọng Ninh…
Danh sách bài thơ
- À ơi!
- Bài ca vĩnh cửu
- Bài thơ cuối cùng của Lưu Trọng Lư
- Bâng khuâng
- Bao la sầu
- Bé
- Bức thư đêm giao thừa
- Buổi đầu vỗ cánh
- Cảnh thiên đường
- Chải lại đời anh
- Chảy thành sông
- Chị em
- Chia ly
- Chiếc cáng điều
- Chiếc ghế
- Chiều cổ
- Chiều nay, ai đẹp hơn anh?
- Chuông điểm
- Có lẽ nào anh chết
- Có những vườn
- Còn chi nữa
- Con chim non
- Đã khuya rồi
- Đan áo
- Đi giữa vườn nhân
- Điệu hát lẳng lơ
- Điệu huyền Những điệu huyền lạc
- Đợi
- Đôi mắt
- Đường ta đi thế đấy bạn lòng ơi!
- Em có nghe
- Em Mai
- Em thời gian, ngừng tay!
- Giang hồ
- Gió
- Giữa mùa gió thổi
- Hoa bên đường
- Hoa xoan
- Hoàng hôn
- Hôm qua
- Hồn lẫn xác
- Hồn nghệ sĩ
- Hương lòng
- Im lặng
- Khi thu rụng lá
- Khi yêu
- Lá bàng rơi
- Lá mồng tơi
- Lại mùa phượng đỏ
- Lại nhớ Lại nhớ Vân
- Lại tiễn con
- Lại uống
- Lòng cô phụ
- Lót ổ
- Mây
- Mây trắng
- Mẻ chài sớm ấy
- Miếng đất
- Mộng chiều hè
- Mộng Oanh Oanh
- Một chút tình
- Một mùa đông
- Mưa... mưa mãi
- Nắng mới
- Ngày xưa
- Ngò cải đơm hoa
- Ngựa say
- Người con gái sông Gianh
- Nhật kí nửa nằm nửa ngồi: viết
- Nói cho mà biết
- Núi xa
- O tiếp tế
- Ông La Hán hở sườn
- Phật nằm
- Phật nghìn tay
- Qua đèo Hải Vân
- Sứ giả
- Suối mây
- Thơ sầu rụng
- Thú đau thương
- Thu Hạ Long
- Thuyền mộng
- Tiếng hát hôm nay
- Tiếng thu
- Tiếng vạc đêm Niu Đenly
- Tình điên
- Tội giặc
- Trăng lên
- Trăng lên
- Tráng sĩ
- Trên bãi biển
- Trên bãi biển
- Trường hận
- Tự sự đêm
- Tuổi 80
- Túp lều cũ
- Vắng chàng
- Vì sương thu đổ
- Vô đề
- Vô đề
- Vòng chuỗi ngọc
- Xin rước cô em
- Xuân về Vắng khách thơ
THÊM BÀI TRẢ LỜI:
Mục này để gửi các nội dung liên quan đến tác giả, bao gồm tiểu sử, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.
Đăng nhập để gửi bài trả lời cho tác giả này.