Trúc Bạch hồ
Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Hồ Xuân Hương
Thể thơ: Chưa phân loại
Thời kỳ: Chưa rõ
0 bài trả lời
0 người thích
Từ khoá:
tác giả tồn nghi (257) Hà Nội (709) Thăng Long (377) hồ Trúc Bạch (7)
Thời kỳ: Chưa rõ
0 bài trả lời
0 người thích
Từ khoá:
tác giả tồn nghi (257) Hà Nội (709) Thăng Long (377) hồ Trúc Bạch (7)
Một số bài cùng tác giả
– Tặng tình nhân– Chí Hiên tặng kỳ 2
– Lấy chồng chung
– Bánh trôi nước
– Miếu Sầm thái thú Đề đền Sầm Nghi Đống
Một số bài cùng từ khóa
– Chùa Trấn Bắc Chơi chùa Trấn Quốc– Thước đạp chi 鵲踏枝
– Đề tân nhạn 題新雁 • Đề chim nhạn mới về
– Loạn hậu kinh Hoài Âm ngạn 亂後經淮陰岸 • Sau loạn đi dọc bờ sông Hoài Âm
– Giang hành vô đề kỳ 039 - Yên chử phục yên chử 江行無題其三十九-煙渚復煙渚 • Đi trên sông không đề kỳ 039 - Bãi khói lại bãi khói
Đăng bởi Admin
vào 16/03/2026 18:19
Một chiếc thuyền nan một mái chèo, Đáy hồ đứng lặng nước trong veo. Quanh co thành cỏ đường lai láng, Chen chóc nhà thôn vẻ gấm thêu. Ngũ Xá cầu dài đường khách thẳng, Châu Long thềm rộng mái chùa cao. Đồn rằng Trúc Bạch vui hơn trước, Nay mới hay rằng lắm thú yêu.
(Theo bản
Xuân Hương thi vịnh
)
Hồ Trúc Bạch
(
21.046,105.839
): Hồ Trúc Bạch 竹帛 thuộc quận Ba Đình, Hà Nội, nguyên là một phần phía đông nam của hồ Tây. Thời trước khu vực này vì sóng lặng hơn nên cá hồ Tây thường tụ về đây. Năm 1620, dân hai làng Yên Hoa (nay là Yên Phụ) và Yên Quang (nay là phố Quán Thánh) đắp một con đê nhỏ để ngăn góc này lại, đánh cá cho dễ hơn, và sau là nuôi cá. Sau đó, chúa Trịnh cho đắp con đê rộng ra, và gọi là đê Cố Ngự (nghĩa là giữ vững). Sau này đường Cố Ngự bị đọc chệch thành Cổ Ngư, và trở thành đường Thanh Niên ngày nay. Khi mới bị ngăn ra, hồ chưa có tên riêng, vẫn chỉ là một góc của hồ Tây. Gần hồ có làng Trúc Yên, trồng nhiều trúc, còn có tên là Trúc Lâm. Vào thế kỷ 18, chúa Trịnh Giang cho xây một cung điện để nghỉ mát cạnh hồ và cũng gọi là Trúc Lâm, về sau trở thành nơi giam giữ các cung nữ phạm tội, họ buộc phải tự dệt lụa để sinh sống. Lụa của họ rất đẹp và trở nên nổi tiếng khắp vùng. Lụa đẹp, bóng bẩy gọi là lụa trúc (chữ Hán là “trúc bạch”). Từ đó xuất hiện một làng chuyên dệt lụa với tên là làng Trúc, và hồ cũng được gọi là hồ Trúc Bạch. Hồ có hai hòn đảo, gồm đảo Ngũ Xã ở phía đông xưa có dân năm làng đúc đồng ở Bắc Ninh tụ ở đây hình thành làng đúc đồng Ngũ Xã, và đảo Châu Chử rất nhỏ ở phía tây có miếu Cẩu Nhi (nay được gọi là đền Thuỷ Trung Tiên).
Hình: Hồ Trúc Bạch ngày nay
Hình: Hồ Trúc Bạch và đê Cố Ngự đầu thế kỷ 20
» Có
10
nội dung dùng giải nghĩa:
Trúc Bạch hồ
(Bùi Cơ Túc)
Đề Trấn Vũ quán thạch bi
(Cao Bá Quát)
Trúc Bạch hồ thượng vãn diểu
(Cao Bá Quát)
Trúc Bạch tiền lô
(Đoàn Nguyễn Tuấn)
Thăng Long hành
(Đông Hồ)
Dạo xem phong cảnh Long Thành
(Khuyết danh Việt Nam)
Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng
(Khuyết danh Việt Nam)
Trúc Bạch tiền lô
(Khuyết danh Việt Nam)
Trúc Bạch tiền lô
(Phạm Đình Hổ)
Hồ Tây
Khảo dị:
- Bản
Âm ca tập
Vịnh Trúc Bạch hồ
Một chiếc thuyền nan một mái chèo,
Đáy hồ
‡
lay láy
nước trong veo.
Quanh co
‡
chòm
cỏ đường lai láng,
‡
Chim
chóc nhà thôn vẻ gấm thêu.
Ngũ
‡
Xã
cầu dài đường khách thẳng,
‡
Vây rồng
thềm rộng mái chùa cao.
Đồn rằng Trúc Bạch vui
‡
từ
trước,
Nay mới hay rằng lắm thú yêu.
Sách
Văn đàn bảo giám
chép tác giả bài này của quan Hiệp Đào, tức Đào Tấn:
Một chiếc thuyền nan một mái chèo,
Đáy hồ
‡
lặng
sóng
nước trong veo.
Quanh co thành cỏ đường lai láng,
Chen chóc nhà thôn
‡
cảnh
gấm thêu.
Ngũ
‡
Xã kiều
dài đường khách thẳng,
Châu Long thềm rộng
‡
nóc
chùa cao.
Đồn rằng Trúc Bạch vui
‡
từ
trước,
Nay mới hay rằng lắm thú yêu.
Chú thích:
[1]
Khu vực hồ Trúc Bạch nằm ở vùng Cửa Bắc của thành Thăng Long. Bản đồ Hà Nội năm Minh Mệnh 12 (1831) còn cho thấy hồ Trúc Bạch và cả hồ Mã Cảnh (hồ Cổ Ngựa) trải dài từ đê Yên Phụ đến giáp Hàng Than, có con đường từ chỗ tường thành ở cổng Chính Bắc ra tận đê Yên Phụ; thành cỏ chính là chỉ bức tường thành có cỏ mọc ở Cửa Bắc này.
[2]
Chỉ bán đảo Ngũ Xá, gần hồ Trúc Bạch. Gọi Ngũ Xá là do có 5 làng (Đề Cầu, Kim Tháp, Quỳnh Đôi, Lê Xá, An Nhuế) thuộc huyện Siêu Loại, trấn Kinh Bắc, hồi cuối Lê về Thăng Long lập nghiệp, chuyên đúc đồng để bán ở Kinh Thành: “Lửa đóm ghen Ngũ Xá xây lò” (Nguyễn Huy Lượng -
Tụng Tây Hồ phú
).
[3]
Tương truyền chùa Châu Long được dựng cuối đời Trần (thế kỷ XIII) trên gò Châu Lăng trong hồ Trúc Bạch, sau gọi chệch thành Châu Long và lấy làm tên chùa. Trong chùa còn bia ghi việc trùng tu vào năm Mậu Thìn, niên hiệu Gia Long thứ 7 (1808).
» Có
1
bài cùng chú thích:
Du Tiên Lữ động văn nhân đàm Thái Nguyên sơn thuỷ chi thắng, tuý hậu thành ngâm
(Cao Bá Quát)
Bình luận nhanh 0
Chưa có bình luận nhanh nào