胡笳拍斷玄冰結, 湘靈曲終斑竹裂。 為君更奏蜀國弦, 一彈一聲飛上天。 蜀國周遭五千里, 蛾眉岧岧連玉壘。 岷嶓出水作大江, 地砉天浮戒南紀。 舒為五色朝霞暉, 慘為虎豹嗥陰霏。 翕為千障雲雨入, 噓為百里雷霆飛。 白鹽雪消春水滿, 谷鳥相呼錦城暖。 巴姬倚歌漢女和, 楊柳壓橋花纂纂。 銅梁翠氣通青蛉, 碧雞啼落天上星。 山都號風寡孤泣, 杜鵑嗚咽愁幽冥。 商悲羽怒聽未了, 窮猿三聲巫峽曉。 瞿塘噴浪翻九淵, 倒瀉流泉喧木杪。 樓頭仲宣羈旅客, 故鄉渺渺皆塵隔。 含凄更聽蜀國音, 不待天明頭盡白。

Hồ già phách đoạn huyền băng kết, Tương linh khúc chung ban trúc liệt. Vị quân cánh tấu Thục quốc huyền, Nhất đàn nhất thanh phi thướng thiên. Thục quốc chu tao ngũ thiên lý, Nga My thiều thiều liên Ngọc Luỹ. Mân, Ba xuất thuỷ tác đại giang, Địa hoạch thiên phù giới nam kỷ. Thư vi ngũ sắc triêu hà huy, Thảm vi hổ báo hào âm phi. Hấp vi thiên chướng vân vũ nhập, Hư vi bách lý lôi đình phi. Bạch Diêm tuyết tiêu xuân thuỷ mãn, Cốc điểu tương hô Cẩm thành noãn. Ba cơ ỷ ca Hán nữ hoà, Dương liễu áp kiều hoa toản toản. Đồng Lương thuý khí thông Thanh Linh, Bích kê đề lạc thiên thượng tinh. San đô hào phong quả cô khấp, Đỗ quyên ô yết sầu u minh. Thương bi vũ nộ thính vị liễu, Cùng viên tam thanh Vu Giáp hiểu. Cù Đường phún lãng phiên cửu uyên, Đảo tả lưu tuyền huyên mộc diểu. Lâu đầu Trọng Tuyên ky lữ khách, Cố hương diểu diểu giai trần cách. Hàm thê cánh thính Thục quốc âm, Bất đãi thiên minh đầu tận bạch.

Khèn Hồ gẫy phách băng dầy đông kết Đứt khúc Tương linh trúc đốm bị chẻ ra Tấu cung đàn nước Thục để bác nghe Khi đàn lên, từng tiếng từng tiếng bay lên trời Chu vi nước Thục dài năm nghìn dặm Núi Nga My cao vút liền với núi Ngọc Luỹ Sông Mân sông Bá chảy vào Đại Giang Nơi đất dừng trời nổi địa đầu phía nam Khi vui làm ráng năm sắc ban mai Khi buồn làm tiếng hổ báo gầm ngày mưa Hợp lại thành nghìn bức chắn mây mưa kéo vào Bực lên, nổi lôi đình vang xa trăm dặm Tuyết núi Bạch Diêm tan, nước xuân đầy Chim núi kêu Cẩm thành ấm lên Con gái Ba Quận hát, con gái Thục hoà theo Dương liễu bên cầu nở hoa trĩu cành Khí xanh trên núi Đồng Lương thông với sông Thanh Linh Gà biếc kêu, tiếng làm rụng sao trời Con khỉ đầu chó hú, gió đơn côi khóc Tiếng chim đỗ quyên khắc khoải, nỗi buồn dằng dặc Thương buồn, vũ giận nghe chưa dứt Ba tiếng vượn kêu Vu Giáp sáng ra Cù Đường phun sóng nghiêng chín vực Dòng suối chảy ngược xối lên ngọn cây Đứng trên lầu, Trọng Tuyên là khách xa nhà Quê nhà xa xăm mịt mù Ngậm nước mắt nghe âm nước Thục Chưa sáng mà đầu đã bạc hết.

胡笳拍斷玄冰結, Hồ già phách đoạn huyền băng kết, Khèn Hồ gẫy phách băng dầy đông kết

湘靈曲終斑竹裂。 Tương linh khúc chung ban trúc liệt. Đứt khúc Tương linh trúc đốm bị chẻ ra

為君更奏蜀國弦, Vị quân cánh tấu Thục quốc huyền, Tấu cung đàn nước Thục để bác nghe

一彈一聲飛上天。 Nhất đàn nhất thanh phi thướng thiên. Khi đàn lên, từng tiếng từng tiếng bay lên trời

蜀國周遭五千里, Thục quốc chu tao ngũ thiên lý, Chu vi nước Thục dài năm nghìn dặm

蛾眉岧岧連玉壘。 Nga My thiều thiều liên Ngọc Luỹ. Núi Nga My cao vút liền với núi Ngọc Luỹ

岷嶓出水作大江, Mân, Ba xuất thuỷ tác đại giang, Sông Mân sông Bá chảy vào Đại Giang

地砉天浮戒南紀。 Địa hoạch thiên phù giới nam kỷ. Nơi đất dừng trời nổi địa đầu phía nam

舒為五色朝霞暉, Thư vi ngũ sắc triêu hà huy, Khi vui làm ráng năm sắc ban mai

慘為虎豹嗥陰霏。 Thảm vi hổ báo hào âm phi. Khi buồn làm tiếng hổ báo gầm ngày mưa

翕為千障雲雨入, Hấp vi thiên chướng vân vũ nhập, Hợp lại thành nghìn bức chắn mây mưa kéo vào

噓為百里雷霆飛。 Hư vi bách lý lôi đình phi. Bực lên, nổi lôi đình vang xa trăm dặm

白鹽雪消春水滿, Bạch Diêm tuyết tiêu xuân thuỷ mãn, Tuyết núi Bạch Diêm tan, nước xuân đầy

谷鳥相呼錦城暖。 Cốc điểu tương hô Cẩm thành noãn. Chim núi kêu Cẩm thành ấm lên

巴姬倚歌漢女和, Ba cơ ỷ ca Hán nữ hoà, Con gái Ba Quận hát, con gái Thục hoà theo

楊柳壓橋花纂纂。 Dương liễu áp kiều hoa toản toản. Dương liễu bên cầu nở hoa trĩu cành

銅梁翠氣通青蛉, Đồng Lương thuý khí thông Thanh Linh, Khí xanh trên núi Đồng Lương thông với sông Thanh Linh

碧雞啼落天上星。 Bích kê đề lạc thiên thượng tinh. Gà biếc kêu, tiếng làm rụng sao trời

山都號風寡孤泣, San đô hào phong quả cô khấp, Con khỉ đầu chó hú, gió đơn côi khóc

杜鵑嗚咽愁幽冥。 Đỗ quyên ô yết sầu u minh. Tiếng chim đỗ quyên khắc khoải, nỗi buồn dằng dặc

商悲羽怒聽未了, Thương bi vũ nộ thính vị liễu, Thương buồn, vũ giận nghe chưa dứt

窮猿三聲巫峽曉。 Cùng viên tam thanh Vu Giáp hiểu. Ba tiếng vượn kêu Vu Giáp sáng ra

瞿塘噴浪翻九淵, Cù Đường phún lãng phiên cửu uyên, Cù Đường phun sóng nghiêng chín vực

倒瀉流泉喧木杪。 Đảo tả lưu tuyền huyên mộc diểu. Dòng suối chảy ngược xối lên ngọn cây

樓頭仲宣羈旅客, Lâu đầu Trọng Tuyên ky lữ khách, Đứng trên lầu, Trọng Tuyên là khách xa nhà

故鄉渺渺皆塵隔。 Cố hương diểu diểu giai trần cách. Quê nhà xa xăm mịt mù

含凄更聽蜀國音, Hàm thê cánh thính Thục quốc âm, Ngậm nước mắt nghe âm nước Thục

不待天明頭盡白。 Bất đãi thiên minh đầu tận bạch. Chưa sáng mà đầu đã bạc hết.

 

Thêm bài trả lời:

Mục này để gửi các nội dung liên quan đến bài thơ, bao gồm bản dịch, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.

Thể loại:

Tiêu đề:

Nội dung:

Chú thích:

Nguồn tham khảo, trích dẫn (mỗi nguồn một dòng):

Bình luận nhanh 0

Bạn chưa đăng nhập, vui lòng nhập thêm thông tin liên hệ để gửi bình luận nhanh.

Chưa có bình luận nhanh nào