輪臺城頭夜吹角, 輪臺城北旄頭落。 羽書昨夜過渠黎, 單于已在金山西。 戍樓西望煙塵黑, 漢兵屯在輪臺北。 上將擁旄西出征, 平明吹笛大軍行。 四邊伐鼓雪海湧, 三軍大呼陰山動。 虜塞兵氣連雲屯, 戰場白骨纏草根。 劍河風急雪片闊, 沙口石凍馬蹄脫。 亞相勤王甘苦辛, 誓將報主靜邊塵。 古來青史誰不見, 今見功名勝古人。

Luân Đài thành đầu dạ xuy giốc, Luân Đài thành bắc Mao Đầu lạc. Vũ thư tạc dạ quá Cừ Lê, Thiền Vu dĩ tại Kim Sơn tê (tây). Thú lâu tây vọng yên trần hắc, Hán binh truân tại Luân Đài bắc. Thượng tướng ủng mao tây xuất chinh, Bình minh xuy địch đại quân hành. Tứ biên phạt cổ tuyết hải dũng, Tam quân đại hô Âm Sơn động. Lỗ tái binh khí liên vân truân, Chiến trường bạch cốt triền thảo căn. Kiếm hà phong cấp tuyết phiến khoát, Sa khẩu thạch đông mã đề thoát. Á tướng cần vương cam khổ tân, Thệ tướng báo chủ tĩnh biên trần. Cổ lai thanh sử thuỳ bất kiến, Kim kiến công danh thắng cổ nhân.

Có tiếng tù và báo canh nơi đầu thành Luân Đài, Sao Mao rơi ở mạn bắc thành này (báo hiệu Hung Nô sẽ thua). Đêm qua có quân thư từ Cừ Lê mang tới, Báo rằng chúa Thiền Vu đã tới phía tây núi Kim. Từ vọng canh thấy khói và bụi đen cả mạn tây, Quân Hán đóng phía bắc Luân Đài. Thượng tướng có cờ mao chỉ huy cuộc tây chinh, Sáng sớm truyền lệnh thổi kèn xuất quân. Trống đánh ở biên thuỳ phía tây rền vang Tuyết Hải, Tiếng quân reo chấn động cả Âm Sơn. Về phía quân địch khí thế cũng lên tới mây, Nơi chiến trường xương trắng bó trong gốc cỏ. Gió thổi gấp đưa tuyết đổ xuống vùng sông Kiếm bao la, Núi đá ở Sa Khẩu đóng băng làm vó ngựa trơn trượt. Phó tướng (Phong đại phu) vì ơn vua cam chịu gian khổ, Thề tận trung báo quốc đem lại bình an cho vùng biên cảnh. Dã sử từ xưa ghi chiến công ai mà chẳng thấy? Nay ta thấy công danh của ông hơn nguời xưa.

輪臺城頭夜吹角, Luân Đài thành đầu dạ xuy giốc, Có tiếng tù và báo canh nơi đầu thành Luân Đài,

輪臺城北旄頭落。 Luân Đài thành bắc Mao Đầu lạc. Sao Mao rơi ở mạn bắc thành này (báo hiệu Hung Nô sẽ thua).

羽書昨夜過渠黎, Vũ thư tạc dạ quá Cừ Lê, Đêm qua có quân thư từ Cừ Lê mang tới,

單于已在金山西。 Thiền Vu dĩ tại Kim Sơn tê. Báo rằng chúa Thiền Vu đã tới phía tây núi Kim.

戍樓西望煙塵黑, Thú lâu tây vọng yên trần hắc, Từ vọng canh thấy khói và bụi đen cả mạn tây,

漢兵屯在輪臺北。 Hán binh truân tại Luân Đài bắc. Quân Hán đóng phía bắc Luân Đài.

上將擁旄西出征, Thượng tướng ủng mao tây xuất chinh, Thượng tướng có cờ mao chỉ huy cuộc tây chinh,

平明吹笛大軍行。 Bình minh xuy địch đại quân hành. Sáng sớm truyền lệnh thổi kèn xuất quân.

四邊伐鼓雪海湧, Tứ biên phạt cổ tuyết hải dũng, Trống đánh ở biên thuỳ phía tây rền vang Tuyết Hải,

三軍大呼陰山動。 Tam quân đại hô Âm Sơn động. Tiếng quân reo chấn động cả Âm Sơn.

虜塞兵氣連雲屯, Lỗ tái binh khí liên vân truân, Về phía quân địch khí thế cũng lên tới mây,

戰場白骨纏草根。 Chiến trường bạch cốt triền thảo căn. Nơi chiến trường xương trắng bó trong gốc cỏ.

劍河風急雪片闊, Kiếm hà phong cấp tuyết phiến khoát, Gió thổi gấp đưa tuyết đổ xuống vùng sông Kiếm bao la,

沙口石凍馬蹄脫。 Sa khẩu thạch đông mã đề thoát. Núi đá ở Sa Khẩu đóng băng làm vó ngựa trơn trượt.

亞相勤王甘苦辛, Á tướng cần vương cam khổ tân, Phó tướng (Phong đại phu) vì ơn vua cam chịu gian khổ,

誓將報主靜邊塵。 Thệ tướng báo chủ tĩnh biên trần. Thề tận trung báo quốc đem lại bình an cho vùng biên cảnh.

古來青史誰不見, Cổ lai thanh sử thuỳ bất kiến, Dã sử từ xưa ghi chiến công ai mà chẳng thấy?

今見功名勝古人。 Kim kiến công danh thắng cổ nhân. Nay ta thấy công danh của ông hơn nguời xưa.

 

Thêm bài trả lời:

Mục này để gửi các nội dung liên quan đến bài thơ, bao gồm bản dịch, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.

Thể loại:

Tiêu đề:

Nội dung:

Chú thích:

Nguồn tham khảo, trích dẫn (mỗi nguồn một dòng):

Bình luận nhanh 0

Bạn chưa đăng nhập, vui lòng nhập thêm thông tin liên hệ để gửi bình luận nhanh.

Chưa có bình luận nhanh nào