Tản Đà 傘沱, Nguyễn Khắc Hiếu ♂
Tản Đà 傘沱 (19/5/1889 - 7/6/1939) tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu 阮克孝, sinh năm Thành Thái thứ nhất (Kỷ Sửu) ngày 20 tháng 4, dương lịch là 19-5-1889 tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, một làng trung du nhỏ bên sông Đà, chỉ cách núi Tản Viên 10km đường chim bay. Nay Khê Thượng được nhập với một số xã khác thành xã Sơn Đà thuộc huyện Ba Vì, ngoại thành Hà Nội.
Ông xuất thân trong một dòng họ khoa bảng lâu đời, chính quán ở làng Lủ tức Kim Lũ, xã Đại Kim, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Nay nhà thờ tổ họ vẫn còn ở xã, được xếp vào di tích liệt hạng, vì có nhiều nhân vật lịch sử và danh nhân văn hoá như Nguyễn Công Thể (tổ 6 đời của Tản Đà), tả thị lang bộ Lại, thượng thư bộ Lễ, Thái bảo thái phó Kiều quận công, đã có công đấu tranh với triều đình nhà Thanh để giữ đất biên cương ở trấn Tuyên Quang; Phương Đình - Nguyễn Văn Siêu (thần Siêu, thánh Quát); đầu xứ Trừu tức Hổ Trừu, nhà thơ trào phúng, tú tài Quyến, em ruột Hổ Trừu, theo lãnh tụ Cần Vương Ngô Quang Bích được cử sang Trung Quốc tìm gặp Tôn Thất Thuyết v.v...
Khi nhà Nguyễn nắm quyền thống trị đất nước, các cụ dòng họ Nguyễn làng Khê Thượng đã lập lời thề không ra làm quan với triều đại mới, từ đó dòng họ sa sút nghèo khổ, chỉ làm “thầy đồ làng”, tới Nguyễn Danh Kế là thân sinh Tản Đà vừa phải đi học vừa làm thợ thổ (làm đất thuê) để nuôi mẹ.
Vì quá túng thiếu nên Nguyễn Danh Kế đã ra thi, đỗ Cử nhân triều Tự Đức, bổ tri huyện Nam Sang, tri phủ Lý Nhân, rồi Xuân Trường (đều thuộc Hà Nam Ninh ngày nay), thăng án sát Ninh Bình rồi mất (1837-1891). Tuy gửi thân vào chốn quan trường nhưng Nguyễn Danh Kế có cốt cách một nhà nho tài tử, và trong chốn Bình Khang đã gặp một đào nương tài sắc ở phố Hàng Thao, Nam Định là Nhữ Thị Nghiêm. Yêu vì tài, cảm vì tình, hai người đã lấy nhau hồi Nguyễn Danh Kế làm tri phủ Xuân Trường. Từ cuộc hôn nhân ấy đã sinh ra Nguyễn Khắc Hiếu, còn tên là Cứu, thường được gọi là “ấm Cứu” rồi “ấm Hiếu”. Ấm Hiếu là con thứ tư và là con út của bà Nhữ Thị Nghiêm và là con trai thứ 11, cùng út của Nguyễn Danh Kế (ông có 3 vợ, 11 con).
Năm Nguyễn Khắc Hiếu lên ba tuổi thì thân phụ qua đời, năm lên 4 mẹ trở lại nghề cũ với tiếng đàn câu hát, khi Hà Nội, khi Bắc Ninh. Từ đó, ông được người anh khác mẹ là Nguyễn Tái Tích, phó bảng ra giáo thụ, nuôi dưỡng và cho ăn học chuyên về khoa cử. Do ảnh hưởng gia đình, năm 14 tuổi, ông đã thạo các lối từ chương thi phú. Năm 1907, ông theo anh ra Hà Nội, học trường Quy Thức ở phố Gia Ngư. Năm 1909, đi thi Hương ở Nam Định, bị hỏng. Năm 1912, đi thi khoa Nhâm Tý với hy vọng nếu đỗ cử nhân thì sẽ kết duyên cùng nàng Đỗ thị ở phố Hàng Bồ, Hà Nội, nhưng vẫn hỏng. Trở về Hà Nội, chứng kiến người yêu là cô Đỗ đi lấy chồng, ông chán nản bỏ về Hoà Bình tìm khuây lãng; rồi cùng bạn là nhà tư sản Bạch Thái Bưởi lên chùa uống rượu, làm thơ và thưởng trăng, sống theo lối “tịch cốc”.
Năm 1915, ông lập gia đình. Năm 1916, người anh từ trần, gia đình trở nên cùng túng, Tản Đà quyết định chuyển hẳn sang nghề cầm bút. Thời gian này ông viết tuồng cho các rạp và được đọc thêm nhiều sách dịch Âu Tây bằng chữ Hán, nhờ đó tư tưởng có nhiều biến chuyển.
Năm 1920, đi du lịch ở Huế, Đà Nẵng, trở về viết truyện Thề non nước. Năm 1921, làm chủ bút tờ Hữu Thanh tạp chí. Được 6 tháng, từ chức, trở về quê. Năm 1922, lại ra Hà Nội lập Tản Đà thư điếm, sau tập hợp với Nghiêm hàm ấn quán thành Tản Đà thư cục.
Năm 1925, phong trào yêu nước dấy lên mạnh mẽ, Tản Đà càng nhập thế tích cực hơn. Ông tổ chức một chuyến du lịch vào Nam, gặp gỡ nhiều nhà chí sĩ và viết bài trên nhiều báo. Tháng 2 năm 1928, trở về Bắc, rồi lên định cư vùng Yên Lập (Vĩnh Yên), nhưng bị quan lại địa phương gây khó dễ, phải xuống Hải Phòng, rồi lại lên Hà Nội. Năm 1933, sau khi An Nam tạp chí bị đình bản, ông chuyển sang trợ bút cho Văn học tạp chí ít lâu rồi về quê ở ẩn.
Cuối năm 1937, chuyển về làng Hà Trì (Hà Đông), tham gia dịch thuật, viết báo. Sau vì bị viên quan Tổng đốc Hà Đông thù ghét, phải chuyển ra Hà Nội, mở lớp dạy Quốc văn hàm thụ, Hán văn diễn giảng, kiêm cả xem lý số Hà lạc. Ông sống nghèo đói, không đủ ăn và trả tiền nhà, bị chủ nhà tịch thu đồ đạc và đuổi đi, Tản Đà phải cùng gia đình dọn về phố Cầu Mới. Trong hai năm 1937 và 1938, ông dịch thơ Đường đăng nhiều trên báo Ngày nay.
Ông qua đời vì bệnh vào ngày 7 tháng 6 năm 1939 (20 tháng 4 năm Kỷ Mão) tại nhà 71 phố Cầu Mới, Ngã Tư Sở, Hà Nội (nay là nhà số 47 Nguyễn Trãi), thọ 51 tuổi. Năm 1963, di hài Tản Đà đã được cải táng đưa về chôn ở cánh đồng Cửu Quán, thôn Hội Xá (quê vợ của nhà thơ), xã Hương Sơn, tỉnh Hà Tây cũ.
Trên văn đàn của văn học Việt Nam trong hơn 3 thập niên đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tạo. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực, đi khắp miền đất nước, ông để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu thanh, An Nam tạp chí. Ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là “gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại”. Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường ra thơ lục bát. Hiệu Tản Đà chỉ núi Tản Viên (tức núi Ba Vì) và sông Đà (còn gọi là Hắc giang vì nước lúc nào cũng đen), được ông thích nghĩa bằng ba câu yết hậu:
Ba Vì ở trước mặt Hắc giang bên cạnh nhà Tản ĐàVăn: - Giấc mộng con I (1917) - Giấc mộng con II (1932) - Giấc mộng lớn (1932) - Thề non nước (1922) - Tản Đà văn tập (1932) Thơ: - Khối tình con I (1916) - Khối tình con II (1918) - Tản Đà xuân sắc (1918) - Khối tình con III (1932) Kịch: - Tây Thi (1922) - Tống biệt (1922) Dịch thuật: - Liêu trai chí dị (1934) Nghiên cứu: - Vương Thuý Kiều chú giải (1938) - Một số bài báo...
Tản Đà 傘沱 (19/5/1889 - 7/6/1939) tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu 阮克孝, sinh năm Thành Thái thứ nhất (Kỷ Sửu) ngày 20 tháng 4, dương lịch là 19-5-1889 tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, một làng trung du nhỏ bên sông Đà, chỉ cách núi Tản Viên 10km đường chim bay. Nay Khê Thượng được nhập với một số xã khác thành xã Sơn Đà thuộc huyện Ba Vì, ngoại thành Hà Nội.
Ông xuất thân trong một dòng họ khoa bảng lâu đời, chính quán ở làng Lủ tức Kim Lũ, xã Đại Kim, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Nay nhà thờ tổ họ vẫn còn ở xã, được xếp vào di tích liệt hạng, vì có nhiều nhân vật lịch sử và danh nhân văn hoá như Nguyễn Công Thể (tổ 6 đời của Tản Đà), tả thị lang bộ Lại, thượng thư bộ Lễ, Thái bảo thái phó Kiều quận công, đã có công đấu tranh với triều đình nhà Thanh để giữ đất biên cương…
Danh sách bài thơ
- “An Nam tạp chí” lại ra đời
- “An Nam tạp chí” lại ra lần thứ năm ở Hàng Bông, Hà Nội, cảm tác
- Ai “nữ quyền” ra mua
- Anh thợ cạo
- Ba Đình ký
- Bài ca chúc tiệc lão làng A Lữ
- Bài ca cổ bản - Vì sự diễn kịch ở Lao Kay để lấy tiền giúp nạn dân trong Nghệ Tĩnh
- Bài ca thi của hai tiên nữ tiễn hai chàng Lưu, Nguyễn ra cửa động Thiên Thai về trần
- Bài cổ bản - Nói về liệt đại anh hùng nước ta
- Bài hát chúc báo “Sống”
- Bài hát của Tây Thi
- Bài hát mừng Bắc kỳ Nam tửu
- Bài hát mừng đức Nam Phương hoàng hậu ra tuần du đất Bắc
- Bài hát xuân tình
- Bài hịch giục cho các hoa dậy
- Bài Kinh
- Bài kính viếng quan Guéroult
- Bài Nam bằng - Tâm sự của một người đàn bà lúc bị chồng bỏ
- Bài nói chuyện với ảnh
- Bài Sài Gòn
- Bài tựa “Truyện tỳ bà” của ông Đoàn Tư Thuật dịch
- Bạt
- Bạt
- Bóp vú đau tay
- Cái đòn cáng cùng người phu xe
- Cái giống yêu hoa
- Cái lo
- Cảm đề
- Cảm hứng
- Cảm ơn người cho hà
- Cảm thu, tiễn thu
- Cảm tưởng về sự sống chết
- Cảm xuân
- Cánh bèo
- Cảnh đêm nhà ẩn sĩ (Ngọn đèn xanh)
- Cảnh vui của nhà nghèo
- Câu dậm đò
- Câu đối dâng đền đức Hùng Vương ở Phú Thọ
- Câu đối mừng cưới
- Câu đối mừng khao
- Câu đối phúng ông Lý Phèo
- Câu đối Tết
- Câu đối viếng
- Câu hát đường trường
- Cây đào
- Chị khuyên em
- Chiếc tầu An Nam
- Chiêu Hoàng lấy chồng
- Chim hoạ my trong lồng
- Chơi chùa Hương Tích
- Chơi con đường cũ
- Chơi Hoà Bình
- Chơi Huế
- Chơi trại Hàng Hoa
- Chơi xuân kẻo hết xuân đi
- Chưa say
- Chúc báo Sống
- Có mới nới cũ
- Cô Tây đen Con cá vàng
- Cô Tây về già
- Cò trắng
- Con cá riếc ở trong vết bánh xe
- Con chim khôn
- Con chim xanh
- Còn chơi
- Con cuốc cùng con chão chuộc
- Con gái hái dâu
- Con sáo sậu
- Của thiêng
- Cưỡi ngựa đi thăm bạn
- Cười ông Mai Lâm
- Cứu cấp sự sợ vợ
- Dạm bán áo đoạn
- Dao cầu đại chiến
- Duyên nợ ba sinh
- Đánh bạc
- Đề ảnh mỹ nhân
- Đề bài “Bà mẹ ghẻ có nghĩa”
- Đề bài “Bà Thái Nhâm nhà Chu”
- Đề bài “Mẹ hiền của họ Mang nước Nguỵ”
- Đề bài “Mẹ Vương Lăng”
- Đề báo “Hữu thanh”
- Đề bìa báo “Hữu thanh”
- Đề sau bài “Hai người nghĩa Châu Nhai”
- Đề sau bài “Nàng Tề Khương vợ Vu Văn”
- Đề truyện “Thần tiền”
- Đề truyện “Trần ai tri kỷ”
- Đêm đông hoài cảm
- Đêm khuya nhớ bạn bài 1
- Đêm khuya nhớ bạn bài 2
- Đêm thu Trông giăng cảm tưởng • Đêm thu trông giăng
- Đêm tối
- Đêm xuông phủ Vĩnh
- Đi đêm đay bóng
- Địa đồ rách thứ ba
- Địa đồ rách thứ tư
- Đò đưa bài 1 (Rung rinh nước chảy ngang đèo)
- Đò đưa bài 2 (Giang san một chiếc mui bồng)
- Đò đưa bài 3 (Sông thu ngược gió xuôi thuyền)
- Đò đưa bài 4 (Con sông xuân nước chảy lờ đờ)
- Đoản mã - Áo rách
- Đời đáng chán
- Đời Hậu Trần
- Đời lắm việc
- Đơn khiếu ong, bướm của bách hoa tâu lên đức Thượng đế
- Đông Dương thời sự diễn ca: Việc rượu ở hội đồng
- Đốt lò sưởi xem sách
- Đùa cô sư
- Đưa người nhà quê
- Được tin anh bạn đồng nghiệp “Bắc kỳ thời báo” ra đời
- Ếch mà
- Gà thiến
- Gần tết tiễn năm cũ
- Gặp xuân
- Ghẹo người vu vơ
- Giặt lụa, hái rau
- Gió thu
- Giời mắng
- Gót sen lay động khách là ai
- Gửi bạn độc giả cũ Nam kỳ
- Gửi đùa bác Tú Mỡ
- Hà Lạc lý số
- Hai Bà Trưng
- Hài đàm “Thơ mới”
- Hái thuốc
- Hằng Nga khứ nguyệt
- Hát nói bài 1 (Kiếp sau ai chớ làm người)
- Hát nói bài 2 (Thuyền tình một chiếc con con)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 01 (Đêm thu gió đập cành cau)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 02 (Con sông chạy buột về Hà)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 03 (Năm nay em đã mười ba)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 04 (Ai xui em lấy học trò)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 05 (Chồng người xe ngựa người yêu)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 06 (Gió thu thổi lạnh ao bèo)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 07 (Muốn ăn rau sắng chùa Hương)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 09 (Con sông đi lại bao tàu)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 10 (Người ta có vợ có chồng)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 11 (Gió đưa thầy khoá sang sông)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 12 (Anh đi để vợ anh nhà)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 13 (Anh đi lẽo đẽo đường trường)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 14 (Anh xuôi, em tựa đầu cầu)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 15 (Ai xui anh lấy được mình)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 16 (Ngồi buồn rủ vợ đi chơi)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 17 (Anh ơi! em bảo anh này)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 18 (Gió thu thổi lạnh ao bèo)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 19 (Trông anh, em cũng thương tình)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 20 (Người ta đi võng đi xe)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 22 (Giời mưa sắn ống cao quần)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 23 (Đố ai đốt bóng nung hình)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 24 (Muốn cho đêm ngắn hơn ngày)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 25 (Ai đi? Đợi với tôi cùng)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 26 (Cô kia đen thủi đen thùi)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 27 (Mình đi có nhớ ta chăng)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 28 (Ai làm cho con cuốc nó kêu hè)
- Hát tạp (lối phong dao) bài 29 (Ai làm cho khói lên giời)
- Hầu giời
- Hầu trời
- Hịch đuổi kẻ ăn mày
- Hoạ lại bài “Tản Đà cốc tử” của ông Hiếu, Tú Mỡ
- Hoa phong lạc - Đồng tiền
- Hoa phong lạc - Hoa rụng
- Hoa phong lạc - Thương dỗ người chê chồng
- Hoa sen nở trước nhất ở đầm
- Hoạ thơ ông Lương Ngọc Tùng
- Hoài cảm
- Hỏi gió
- Hơn nhau một chén rượu mời bài 1
- Hơn nhau một chén rượu mời bài 2
- Hộp thư
- Hủ nho lo mùa đông
- Hủ nho lo việc đời
- Khách giang hồ
- Khai bút (năm Canh Thân 1920)
- Khai bút (năm Tân Dậu 1921)
- Không đề (Bạc đánh còn tiền thua cóc sợ)
- Không đề (Con trâu chưa dậy, mục còn chơi)
- Khuyên người giúp dân lụt
- Khuyên thanh niên học hành
- Kiếp con quay
- Kiếp phong trần
- La ga Hàng Cỏ
- Lại say
- Lại tương tư
- Lấy chồng nghèo
- Lên sáu
- Lên tám
- Lo thời khí
- Lo văn ế
- Lưu Nguyễn vào Thiên Thai
- Lưu tình
- Mắng con quốc tiếc xuân
- Mậu Thìn xuân cảm
- Mấy vần ngẫu hứng
- Một bức thư của người nhà quê
- Một đêm ngủ nhà người mán Xiềng ở Bảo Hà (Lao Kay)
- Một trứng trăm giai
- Mưa thu đất khách
- Mừng cưới
- Mừng đám cưới
- Mừng khuyên ai cô dâu
- Mừng xuân
- Muốn làm thằng Cuội
- Năm canh mối tình
- Năm hết hữu cảm
- Ngẫu hứng
- Ngày xuân chúc quốc dân
- Ngày xuân nhớ cảnh nhớ người xưa
- Ngày xuân nhớ xuân
- Ngày xuân thơ rượu
- Ngày xuân tương tư
- Nghe cá
- Nhắn bảo Phong hoá
- Nhắn người trong Thanh
- Nhàn thoại (Á Đông luân nghĩa trọng như san) 閒話(亞東倫義重如山) • Nhàn thoại (Á Đông luân nghĩa nặng bằng non)
- Nhàn thoại (Thao thao phong hoá nhập đồi ba) 閒話(滔滔風化入頹波) • Nhàn thoại (Thao thao phong hoá buổi suy đồi)
- Nhắn Từ Đạm
- Nhớ ai
- Nhớ ai...
- Nhớ bạn
- Nhớ bạn Hà Nội
- Nhớ bạn sông Thương
- Nhớ các bạn độc giả của “An Nam tạp chí”
- Nhớ cảnh cầu Hàm Rồng
- Nhớ cảnh nước lụt ở Bắc
- Nhớ chị hàng cau
- Nhớ mộng
- Nhớ ông bạn ở phố Mã Mây, Hà Nội
- Nhớ ông Bùi Tứ Nhớ ông Thù Nguyên
- Nhớ ông Gia Cát sáu lần ra Kỳ Sơn
- Nhớ ông Lư Thoa
- Nhớ ông Trần Quì
- Nhớ trong Nam
- Nói chuyện với bóng
- Nước thu
- Ôm cầm
- Ống đùng
- Ông Lã Gia
- Phong bài 01 (Trông giăng lại nhớ đến người)
- Phong bài 02 (Đưa nhau nhớ buổi hôm nay)
- Phong bài 03 (Rủ nhau lên núi cắt gianh)
- Phong bài 04 (Giời mưa nước lũ qua đèo)
- Phong bài 05 (Cô kia cắp nón đi đâu)
- Phong bài 06 (Ai xui con cá cắn mồi)
- Phong bài 07 (Ngày xuân con én con oanh)
- Phong bài 08 (Bước chân ra khỏi cổng Hàn)
- Phong bài 09 (Đường đi nho nhỏ, bờ cỏ xanh xanh)
- Phong bài 10 (Anh trông lên giời, ông sao sa đất)
- Phong bài 12 (Một con sông, ba bảy con sóng đào)
- Phong bài 13 (Đêm qua anh nhớ đến mình)
- Phong dao (Ai đi đường ấy làm chi)
- Phong dao (Lâu lâu nhớ bạn thi đàn)
- Phong dao (Người ta đi ngược đi xuôi)
- Phong dao (Nhớ ai rằng rặc đêm dài)
- Phong dao (Suối tuôn róc rách ngang đèo) Vô đề
- Phong dao (Trách ai đánh đá nung vôi)
- Phong dao Bờ Hồ bài 1 (Bờ Hồ những gió cùng giăng)
- Phong dao Bờ Hồ bài 2 (Đêm qua mất cắp như chơi)
- Phong dao Bờ Hồ bài 3 (Hỡi cô yếm trắng kia là)
- Phú đắc: Cái ruột con tầm, em ôi! bối rối mà vò tơ
- Phú đắc: Không chồng ai dễ sống chi lâu
- Qua cầu Hàm Rồng hứng bút
- Quạt xương trắng phất lượt hồng
- Quê nhà chơi mát cảm hứng
- Răn người không nên hay tin người
- Rau sắng chùa Hương
- Ru em
- Sài Gòn tới Nha Trang hữu cảm
- Sẩm chợ bài 1 (Chúng anh xưa chẳng biết ở nơi nào)
- Sẩm chợ bài 2 (Sự phong lưu xưa kia anh đã chải mọi mùi)
- Sẩm chợ bài 3 (Ngoảnh trông lên anh đếch thấy có ra gì)
- Sẩm nhà trò bài 1 - Gửi cô Hiếu
- Sẩm nhà trò bài 2 - Kiếp học trò
- Sầu xuân
- Say
- Sở Khanh
- Sơ thu hoài cảm
- Sông cái, chiếc thuyền nan
- Song khai - Nhời đàn bà con gái ngồi buồn nghĩ buồn
- Sư cụ
- Sự đời
- Sự nghèo
- Tâm sự nàng Mỵ Ê lúc gieo mình xuống sông Châu Giang bài 1
- Tâm sự nàng Mỵ Ê lúc gieo mình xuống sông Châu Giang bài 2
- Tân xuân cảm
- Tập Kiều
- Tập Kiều, viếng Kiều
- Tát ao
- Tây hồ vọng nguyệt
- Tế Chiêu Quân 祭昭君
- Tết tự thuật
- Thăm mả cũ bên đường
- Thăm thằng bồ nhìn
- Tháng ba không mưa
- Thất liên châu - Thu khuê oán
- Thề non nước
- Theo voi ăn bã mía
- Thi Hậu bổ bị trượt kỳ vấn đáp
- Thơ đề tựa “Đài gương truyện”
- Thơ đề tuồng Tây Thi
- Thơ gửi cho Monsieur Tôi
- Thơ khóc tết của hai ông đồ
- Thơ mừng Tết
- Thơ rượu
- Thơ tặng “Phụ nữ tân văn”
- Thơ thẩn
- Thú ăn chơi
- Thư đưa người tình nhân có quen biết
- Thư đưa người tình nhân không quen biết
- Thư lại trách người tình nhân không quen biết
- Thư trách người tình nhân không quen biết
- Thuật bút
- Thúc Sinh
- Thương ai
- Thuý Kiều hồi thứ 19
- Thuý Kiều lúc ra tu chùa Hoạn Thư
- Thuyền ai, sông Thuý Ái
- Tiếc của đời
- Tiễn năm Đinh Mão (1927)
- Tiễn ông Công lên chầu giời
- Tiếp theo bài “Vịnh bức địa đồ rách”
- Tiết phụ hành
- Tình sắc
- Tình tiền
- Tờ ly hôn của người học trò
- Tới chùa Hương, đêm nhớ các bạn ở Vàng Danh, gửi lại
- Tống biệt
- Trai thời loạn
- Trăm năm trọn đời người
- Tranh người con gái tựa ghế ngồi ngủ
- Tranh uyên ương dưới giăng
- Trên ao sen chơi hoa
- Trên bờ sông chơi giăng
- Trông hạc bay
- Trường đình tiễn biệt
- Từ chủ bút “Hữu thanh” lưu đề
- Tự thuật
- Tự trào
- Tự vịnh
- Tựa
- Tương tư
- Văn dẫn
- Văn tế tống chung
- Văn tế việc giỗ
- Vân thê - Mỵ Châu, Trọng Thuỷ
- Ve bâng quơ
- Ve người đá
- Về quê nhà cảm tác
- Viếng bạn rượu
- Vịnh bà Triệu
- Vịnh bức địa đồ rách
- Vịnh cánh hoa đào
- Vịnh sen hồ Hoàn Kiếm
- Vợ chồng người đốt than trên núi
- Vui xuân
- Xem cô chài đánh cá
- Xem tiểu thuyết “Tờ chúc thư” cảm đề
- Xuân cảm
- Xuân hứng
- Xuân sầu (Mưa xuân Hồng Lạc tươi mầu)
- Xuân sầu (Trăm hoa đua nở đẹp hơn cười)
- Xuân tứ
THÊM BÀI TRẢ LỜI:
Mục này để gửi các nội dung liên quan đến tác giả, bao gồm tiểu sử, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.
Đăng nhập để gửi bài trả lời cho tác giả này.