殷鋻小腆依湖水,
宋帝廢儀返朔天。
風雨關河皆涕淚,
未亡人死玉宮前。
tiểu thiển y hồ thuỷ,
Tống đế phế nghi phản sóc thiên.
Phong vũ quan hà giai thế lệ,
tử ngọc cung tiền.
Nước nhỏ nhà Ân như tấm gương răn đe vẫn còn bên hồ nước,
Tống đế bỏ nghi thức trở về phương Bắc.
Gió mưa nơi quan hà tất thảy đều rơi lệ,
Về người vợ goá đã chết trước cung ngọc.
殷鋻小腆依湖水,
Ân giám tiểu thiển y hồ thuỷ,
Nước nhỏ nhà Ân như tấm gương răn đe vẫn còn bên hồ nước,
宋帝廢儀返朔天。
Tống đế phế nghi phản sóc thiên.
Tống đế bỏ nghi thức trở về phương Bắc.
風雨關河皆涕淚,
Phong vũ quan hà giai thế lệ,
Gió mưa nơi quan hà tất thảy đều rơi lệ,
未亡人死玉宮前。
Vị vong nhân tử ngọc cung tiền.
Về người vợ goá đã chết trước cung ngọc.
Nguyên chú: Hồ Trúc Bạch ở ngoài cửa bắc, thuộc huyện Vĩnh Thuận. Phía đông hồ có nhiều nhà cửa san sát, là nơi Nguyễn Kim Nương một cung tần của vua Lê Chiêu Thống tuẫn tiết. Vào năm Gia Long thứ 1 (1802), vua Chiêu Thống cùng thái hậu từ Đại Thanh trở về, đã cho bỏ một số nghi thức cung đình, nên về ở phía đông hồ Trúc Bạch là nơi người cung tần họ Nguyễn đã đến tạm nghỉ trong những ngày nhà vua chạy sang Trung Quốc. Khi sống ở đó, bà không ăn không ngủ, toan đến cung Dịch Ngọc ngắm nhìn áo mũ của nhà vua rồi đi tự vẫn. Quan Tổng trấn Bắc Thành nghe tin, khâm sắc biểu dương đức hạnh, ban biển treo đề chữ “Phù cố Lê sơn lăng”. Xét: Cung tần họ Nguyễn, tự là Kim Nương là người xã Tỳ Bà, huyện Lương Tài, theo hầu vua Lê Chiêu Thống, sinh ra Nguyên Tử. Khi nhà vua chạy sang Trung Quốc cầu viện, không bắt bà đi theo, nên bà đã đến trú ngụ, rồi mất ở đó.
Hồ Trúc Bạch
(
21.046,105.839
): Hồ Trúc Bạch 竹帛 thuộc quận Ba Đình, Hà Nội, nguyên là một phần phía đông nam của hồ Tây. Thời trước khu vực này vì sóng lặng hơn nên cá hồ Tây thường tụ về đây. Năm 1620, dân hai làng Yên Hoa (nay là Yên Phụ) và Yên Quang (nay là phố Quán Thánh) đắp một con đê nhỏ để ngăn góc này lại, đánh cá cho dễ hơn, và sau là nuôi cá. Sau đó, chúa Trịnh cho đắp con đê rộng ra, và gọi là đê Cố Ngự (nghĩa là giữ vững). Sau này đường Cố Ngự bị đọc chệch thành Cổ Ngư, và trở thành đường Thanh Niên ngày nay. Khi mới bị ngăn ra, hồ chưa có tên riêng, vẫn chỉ là một góc của hồ Tây. Gần hồ có làng Trúc Yên, trồng nhiều trúc, còn có tên là Trúc Lâm. Vào thế kỷ 18, chúa Trịnh Giang cho xây một cung điện để nghỉ mát cạnh hồ và cũng gọi là Trúc Lâm, về sau trở thành nơi giam giữ các cung nữ phạm tội, họ buộc phải tự dệt lụa để sinh sống. Lụa của họ rất đẹp và trở nên nổi tiếng khắp vùng. Lụa đẹp, bóng bẩy gọi là lụa trúc (chữ Hán là “trúc bạch”). Từ đó xuất hiện một làng chuyên dệt lụa với tên là làng Trúc, và hồ cũng được gọi là hồ Trúc Bạch. Hồ có hai hòn đảo, gồm đảo Ngũ Xã ở phía đông xưa có dân năm làng đúc đồng ở Bắc Ninh tụ ở đây hình thành làng đúc đồng Ngũ Xã, và đảo Châu Chử rất nhỏ ở phía tây có miếu Cẩu Nhi (nay được gọi là đền Thuỷ Trung Tiên).
Hình: Hồ Trúc Bạch ngày nay
Hình: Hồ Trúc Bạch và đê Cố Ngự đầu thế kỷ 20
» Có
10
nội dung dùng giải nghĩa:
Đề Trấn Vũ quán thạch bi
(Cao Bá Quát)
Trúc Bạch hồ thượng vãn diểu
(Cao Bá Quát)
Trúc Bạch tiền lô
(Đoàn Nguyễn Tuấn)
Thăng Long hành
(Đông Hồ)
Trúc Bạch hồ
(Hồ Xuân Hương)
Dạo xem phong cảnh Long Thành
(Khuyết danh Việt Nam)
Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng
(Khuyết danh Việt Nam)
Trúc Bạch tiền lô
(Khuyết danh Việt Nam)
Trúc Bạch tiền lô
(Phạm Đình Hổ)
Hồ Tây
Chú thích:
[1]
Chữ từ
Kinh thi
bài
Đãng
, chỉ việc nhà Ân diệt nhà Hạ, thì sau đời Ân, nên lấy việc nhà Hạ bị diệt làm tấm gương răn đe. Sau “Ân giám” cũng phiếm chỉ lấy sự việc đời trước làm tấm gương răn đe.
[2]
Người vợ goá, đây chỉ cung tần Nguyễn Kim.
» Có
1
bài cùng chú thích:
Giai hạ ngô đồng hốt nhiên bán khô cảm nhi hữu tác
(Tiền Thục Sinh)
Bình luận nhanh 0
Chưa có bình luận nhanh nào