紅荷碧杜遶金苔,
空路雲梁小徑開。
待月吟殘鐘定夜,
煙霞有約一漁來。
Hồng hà bích đỗ nhiễu kim đài,
vân lương tiểu kính khai.
Đãi nguyệt ngâm tàn chung định dạ,
Yên hà hữu ước nhất ngư lai.
Sen hồng đỗ biếc bao bọc lấy toà vàng,
Nghe nói sư Không Lộ từng mở lối qua đây.
Cuộc ngâm thơ đợi trăng đã tàn, tiếng chuông đêm đã điểm,
Một ông chài đến theo ước hẹn tiêu dao mây ráng.
紅荷碧杜遶金苔,
Hồng hà bích đỗ nhiễu kim đài,
Sen hồng đỗ biếc bao bọc lấy toà vàng,
空路雲梁小徑開。
Không Lộ vân lương tiểu kính khai.
Nghe nói sư Không Lộ từng mở lối qua đây.
待月吟殘鐘定夜,
Đãi nguyệt ngâm tàn chung định dạ,
Cuộc ngâm thơ đợi trăng đã tàn, tiếng chuông đêm đã điểm,
煙霞有約一漁來。
Yên hà hữu ước nhất ngư lai.
Một ông chài đến theo ước hẹn tiêu dao mây ráng.
Chùa Trấn Quốc
(
21.048,105.837
): Chùa Trấn Quốc nằm trên một hòn đảo phía đông Hồ Tây, gần đường Thanh Niên, thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội. Chùa có lịch sử gần 1500 năm và được coi là lâu đời nhất ở Thăng Long - Hà Nội. Thời nhà Lý và nhà Trần, đây là trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long. Kiến trúc chùa có sự kết hợp hài hoà giữa tính uy nghiêm, cổ kính với cảnh quan thanh nhã giữa nền tĩnh lặng của một hồ nước mênh mang. Chùa được dựng từ thời Tiền Lý (Lý Nam Đế, 541-547), tại thôn Y Hoa, gần bờ sông Hồng, nguyên tên là chùa Khai Quốc. Đời Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thuý Hoa (thời Lý) và điện Hàn Nguyên (thời Trần). Trong các năm 1624, 1628 và 1639, chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1639 về công việc tôn tạo này. Đầu đời Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm 1821, vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.
Hình: Chùa Trấn Quốc
» Có
21
nội dung dùng giải nghĩa:
Chùa Trấn Bắc
(Bà huyện Thanh Quan)
Du Tây Hồ Trấn Quốc tự
(Cao Bá Quát)
Đăng Trấn Quốc tự vọng Tây Hồ
(Chu Nguyễn Lâm)
Trấn Bắc tự
(Hồ Xuân Hương)
Đề Trấn Quốc tự
(Khuyết danh Việt Nam)
Trấn Quốc quy tăng (Cực lạc hồ trung bảo sát tằng)
(Khuyết danh Việt Nam)
Trấn Quốc quy tăng (Phồn hoa nhân cảnh bán hoàn lăng)
(Khuyết danh Việt Nam)
Trấn Quốc quy tăng (Thuỷ nhiễu tùng lâm triệt để trừng)
(Khuyết danh Việt Nam)
Trấn Quốc quy tăng (Trấn Quốc chân quân dĩ thượng thăng)
(Khuyết danh Việt Nam)
Trấn Quốc quy tăng (Trấn Quốc tùng lâm mộ tử ngưng)
(Khuyết danh Việt Nam)
Trấn tự quy tăng
(Khuyết danh Việt Nam)
Trấn tự quy tăng
(Khuyết danh Việt Nam)
Chùa Trấn Quốc
(Lê Thánh Tông)
Trấn Quốc quy tăng
(Lý Văn Phức)
Trấn Quốc lâu vọng Tây Hồ
(Ngô Thì Sĩ)
Du Trấn Quốc tự
(Nguyễn Hành)
Trấn tự du tăng
(Ninh Tốn)
Trấn Quốc quy tăng
(Phạm Đình Hổ)
Du Tây Hồ Trấn Quốc tự kỳ 1
(Phạm Quý Thích)
Đêm trăng chơi Hồ Tây
(Phan Kế Bính)
Trấn Quốc quy tăng
(Vũ Tông Phan)
Chú thích:
[1]
Tương truyền thiền sư Không Lộ từng ở chùa Trấn Quốc. Ông tên thật là Dương Minh Nghiêm, trước khi xuất gia tu hành vốn làm nghề chài lưới.
Bình luận nhanh 0
Chưa có bình luận nhanh nào