造設靜觀天地靈,
李陳虎視此宜京。
皇朝一統輿圖大,
嘉命昇隆作省城。
Tháo thiết tĩnh quan thiên địa ,
Lý Trần hổ thị thử nghi kinh.
Hoàng triều nhất thống dư đồ đại,
Gia mệnh tác tỉnh thành.
Tạo dựng lặng xem cảnh đất trời linh thiêng,
Lý, Trần đều coi là thế hổ nhòm, xứng đáng là kinh đô hưng thịnh.
Hoàng triều (Nguyễn) thống nhất cơ đồ lớn,
Đổi Thăng Long trở nên tỉnh thành.
造設靜觀天地靈,
Tháo thiết tĩnh quan thiên địa linh,
Tạo dựng lặng xem cảnh đất trời linh thiêng,
李陳虎視此宜京。
Lý Trần hổ thị thử nghi kinh.
Lý, Trần đều coi là thế hổ nhòm, xứng đáng là kinh đô hưng thịnh.
皇朝一統輿圖大,
Hoàng triều nhất thống dư đồ đại,
Hoàng triều (Nguyễn) thống nhất cơ đồ lớn,
嘉命昇隆作省城。
Gia mệnh Thăng Long tác tỉnh thành.
Đổi Thăng Long trở nên tỉnh thành.
Nguyên chú: Sử ký chép Lý Thái Tổ niên hiệu Thuận Thiên năm đầu 1010 tức năm Canh Tuất, vua từ động
Hoa Lư
[3]
ngự giá ra Long Biên định đô có rồng vàng hiện ra trước thuyền ngự, nên vua đặt tên là thành Thăng Long. Phía nam thành là cửa Đại Hưng, nay là chỗ đình Quảng Minh; phía đông bắc là cửa Tường Phù, sau đổi là cửa Đông Hoa, nay là cầu Đông Thị. Trên phía tây là cửa Quảng Đức, nay là Giảng Võ. Phía bắc đường của thành cổ là cửa Diệu Đức, đã bị lở xuống sông, nên không khảo cứu được. Giữa núi Nùng có toà điện thiết triều, trước điện là thềm rồng; trước thềm rồng có năm cửa, trước năm cửa còn có ba cửa, tất cả đều làm bằng đá. Các triều đại Trần, Lê đều đóng đô tại đây. Hoàng triều (Nguyễn) lập kinh đô ở Phú Xuân, niên hiệu Gia Long thứ 3 (1804), vua lệnh xây dựng Bắc Thành, lấy chính giữa núi Nùng làm tâm điểm để hoạch định mốc giới của một góc thành. Phá bỏ ba cửa trước và hai cửa Đại Hưng, Đông Hoa. Như vậy là xây năm cửa của bốn toà thành. Thành, ao, cửa, cầu tất cả đều lát đá, đổi tên là thành Thăng Long (long 隆 có nghĩa là cao). Khảo cứu biết rằng, thành Thăng Long (rồng bay) bắt đầu được xây dựng từ niên hiệu Lý Thuận Thiên nguyên niên (1010), đến đời Nguyễn trùng tu và đổi tên là thành Thăng Long (bay cao); tổng cộng là 794 năm. Đời vua Minh Mệnh tiến hành phân chia các tỉnh thành, ban cho thành Thăng Long tên mới là thành của tỉnh Hà Nội.
Chú thích:
[1]
Câu này trong bản gốc thiếu một chữ, tạm thêm chữ “linh” 靈.
» Có
7
bài cùng chú thích:
Ất Hợi bát nguyệt thập lục nhật khốc gia đệ Thúc Thuyên
(Nguyễn Phúc Ưng Bình)
Chùa Pháp Vũ
(Lê Thánh Tông)
Đính chi phương trung 3
(Khổng Tử)
Đông Sơn 1
(Khổng Tử)
Giản hề 4
(Khổng Tử)
Lương Châu từ kỳ 1
(Trương Tịch)
Xa lân 1
(Khổng Tử)
[2]
Đời Nguyễn đổi tên Thăng Long 昇龍 (rồng bay), thành chữ Thăng Long 昇隆 (lên cao). Từ đó kinh đô Thăng Long trở thành tỉnh thành Hà Nội.
» Có
1
bài cùng chú thích:
Ký ức Hà Nội
(Phương Xích Lô)
[3]
Hoa Lư
(
20.250,105.973
): Hoa Lư nay thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, là kinh đô của hai triều Đinh, Tiền Lê, là quê của Đinh Tiên Hoàng. Tương truyền Đinh Tiên Hoàng khi mới khởi nghĩa, lấy động Hoa Lư, một động còn có tên là Thung Lau hay Thung Ông, xưa thuộc xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn, làm nơi tập trận và căn cứ quân sự cho nghĩa quân Đinh Bộ Lĩnh. Nơi đây núi đá bao quanh kiên cố, lại nhìn ra sông Đáy. Kinh đô này tồn tại 42 năm (968-1010), gắn với sự nghiệp của ba triều đại liên tiếp là nhà Đinh, nhà Tiền Lê và nhà Lý với các dấu ấn lịch sử: thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư về Thăng Long (Hà Nội), Hoa Lư trở thành cố đô. Các triều vua Lý, Trần, Lê, Nguyễn sau đó dù không đóng đô ở Hoa Lư nữa nhưng vẫn cho tu bổ và xây dựng thêm ở đây nhiều công trình kiến trúc như đền, lăng, đình, chùa, phủ... Kinh đô Hoa Lư xưa nay chỉ còn là cố đô Hoa Lư với diện tích tự nhiên 13,87km² nằm trọn trong quần thể di sản thế giới Tràng An thuộc địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Hình: Cố đô Hoa Lư ngày nay
» Có
8
nội dung dùng giải nghĩa:
Thu dạ độ Long giang
(Đào Sư Tích)
Đinh Tiên Hoàng
(Đặng Minh Khiêm)
Thành kỳ quải húc
(Khuyết danh Việt Nam)
Thiên đô chiếu
(Lý Thái Tổ)
Hoa Lư xứ
(Tạ Đình Huy)
Hoa Lư cố kinh hữu cảm
(Trương Minh Lượng)
Đề vịnh Mã Yên sơn lăng
(Vũ Phạm Hàm)
Đề Hoa Lư Đinh đế từ
(Vũ Phạm Khải)
» Có
7
bài cùng chú thích:
Đề Hoa Lư Đinh đế từ
(Vũ Phạm Khải)
Đề vịnh Mã Yên sơn lăng
(Vũ Phạm Hàm)
Đinh Tiên Hoàng
(Đặng Minh Khiêm)
Hoa Lư xứ
(Tạ Đình Huy)
Thành kỳ quải húc
(Khuyết danh Việt Nam)
Thiên đô chiếu
(Lý Thái Tổ)
Thu dạ độ Long giang
(Đào Sư Tích)
Bình luận nhanh 0
Chưa có bình luận nhanh nào