Nhiệt Hải hành tống Thôi thị ngự hoàn kinh 熱海行送崔侍御還京 • Đi bên hồ Nhiệt Hải tiễn quan thị ngự họ Thôi về kinh đô
Một số bài cùng tác giả
– Vãn quá Bàn Thạch tự lễ Trịnh hoà thượng 晚過盤石寺禮鄭和尚 • Buổi chiều qua chùa Bàn Thạch lễ Trịnh hoà thượng– Sơn phòng xuân sự kỳ 2 山房春事其二 • Nét xuân ở nhà trong núi kỳ 2
– Tây quá Vị Châu, kiến Vị thuỷ tư Tần Xuyên 西過渭州,見渭水思秦川 • Đi về phía Tây qua Vị Châu, thấy sông Vị nhớ Tần Xuyên
– Sứ quân tịch dạ tống Nghiêm Hà Nam phó Trường Thuỷ (đắc “thì” tự) 使君席夜送嚴河南赴長水(得時字) • Sứ quân đặt tiệc đêm tiễn quan doãn Hà Nam họ Nghiêm đi Trường Thuỷ (lấy vần “thì”)
– Thủ thu Luân Đài 首秋輪臺 • Mùa thu Luân Đài
側聞陰山胡兒語, 西頭熱海水如煮。 海上眾鳥不敢飛, 中有鯉魚長且肥。 岸旁青草常不歇, 空中白雪旋明滅。 蒸沙煉石燃虜雲, 沸浪炎波煎漢月。 陰火潛燒天地爐, 何事偏烘西一隅? 勢吞月窟侵太白, 氣連赤坡通禪于。 送君一醉西山郭, 正見夕陽海邊落。 柏台霜威寒逼人, 熱海炎氣為之奪。
Trắc văn âm sơn Hồ nhi ngữ, Tây đầu Nhiệt Hải thuỷ như chử. Hải thượng chúng điểu bất cảm phi, Trung hữu lý ngư trường thả phì. Ngạn bàng thanh thảo thường bất hiết, Không trung bạch tuyết toàn minh diệt. Chưng sa luyện thạch nhiên lỗ vân, Phí lãng viêm ba tiên Hán nguyệt. Âm hoả tiềm thiêu thiên địa lô, Hà sự thiên hồng tây nhất ngung? Thế thôn nguyệt quật xâm Thái Bạch, Khí liên xích pha thông Thiền Vu. Tống quân nhất tuý tây sơn quách, Chính kiến tịch dương hải biên lạc. Bách đài sương uy hàn bức nhân, Nhiệt Hải viêm khí vi chi đoạt.
Nhìn nghiêng từ phía bắc quả núi mang tên tiếng Hồ (Diêu bột đạt), Thấy ở mé tây có hồ Nhiệt Hải nước như nước sôi. Chim không dám bay qua hồ, Trong hồ có cá chép đã dài lại béo. Cỏ trên bờ xanh tốt quanh năm, Tuyết trắng bay xoáy trên không trung tan biến. Mây nung bãi cát và đá trong xứ mọi, Sóng nước nóng nấu vầng trăng bên xứ Hán. Bên trong trái đất là một lò lửa nóng âm ỉ, Nhưng tại sao chỉ góc trời phía tây này nóng như thiêu? Sức nóng nuốt gọn vầng trăng còn xâm phạm tới sao Thái Bạch, Hơi nóng bay tới tận đài đỏ Thiền Vu. Tiễn ông một bữa rượu say ngoài tường thành phía tây, Trong lúc ngắm mặt trời từ từ lặn xuống mặt hồ. Sương trên gò trồng bách gần đây lạnh kinh người, Nhưng khí nóng của hồ Nhiệt Hải đã đoạt mất rồi.
側聞陰山胡兒語, Trắc văn âm sơn Hồ nhi ngữ, Nhìn nghiêng từ phía bắc quả núi mang tên tiếng Hồ (Diêu bột đạt),
西頭熱海水如煮。 Tây đầu Nhiệt Hải thuỷ như chử. Thấy ở mé tây có hồ Nhiệt Hải nước như nước sôi.
海上眾鳥不敢飛, Hải thượng chúng điểu bất cảm phi, Chim không dám bay qua hồ,
中有鯉魚長且肥。 Trung hữu lý ngư trường thả phì. Trong hồ có cá chép đã dài lại béo.
岸旁青草常不歇, Ngạn bàng thanh thảo thường bất hiết, Cỏ trên bờ xanh tốt quanh năm,
空中白雪旋明滅。 Không trung bạch tuyết toàn minh diệt. Tuyết trắng bay xoáy trên không trung tan biến.
蒸沙煉石燃虜雲, Chưng sa luyện thạch nhiên lỗ vân, Mây nung bãi cát và đá trong xứ mọi,
沸浪炎波煎漢月。 Phí lãng viêm ba tiên Hán nguyệt. Sóng nước nóng nấu vầng trăng bên xứ Hán.
陰火潛燒天地爐, Âm hoả tiềm thiêu thiên địa lô, Bên trong trái đất là một lò lửa nóng âm ỉ,
何事偏烘西一隅? Hà sự thiên hồng tây nhất ngung? Nhưng tại sao chỉ góc trời phía tây này nóng như thiêu?
勢吞月窟侵太白, Thế thôn nguyệt quật xâm Thái Bạch, Sức nóng nuốt gọn vầng trăng còn xâm phạm tới sao Thái Bạch,
氣連赤坡通禪于。 Khí liên xích pha thông Thiền Vu. Hơi nóng bay tới tận đài đỏ Thiền Vu.
送君一醉西山郭, Tống quân nhất tuý tây sơn quách, Tiễn ông một bữa rượu say ngoài tường thành phía tây,
正見夕陽海邊落。 Chính kiến tịch dương hải biên lạc. Trong lúc ngắm mặt trời từ từ lặn xuống mặt hồ.
柏台霜威寒逼人, Bách đài sương uy hàn bức nhân, Sương trên gò trồng bách gần đây lạnh kinh người,
熱海炎氣為之奪。 Nhiệt Hải viêm khí vi chi đoạt. Nhưng khí nóng của hồ Nhiệt Hải đã đoạt mất rồi.
Bình luận nhanh 0
Chưa có bình luận nhanh nào