梁朝昭明太子分經處, 石臺猶記分經字。 臺基蕪沒雨花中, 百草驚寒盡枯死。 不見遺經在何所, 往事空傳梁太子。 太子年少溺菸文, 強作解事徒紛紛。 佛本是空不著物, 何有乎經安用分。 靈文不在言語科, 孰為金剛為法華。 色空境界茫不悟, 癡心歸佛佛生魔。 一門父子多膠蔽, 一念之中魔自至。 山陵不涌蓮花臺, 白馬朝渡長江水。 楚林禍木池殃魚, 經卷燒灰臺亦圯。 空留無益萬千言, 後世愚僧徒聒耳。 吾聞世尊在靈山, 說法渡人如恆河沙數。 人了此心人自渡, 靈山只在汝心頭。 明鏡亦非臺, 菩提本無樹。 我讀金剛千遍零, 其中奧旨多不明。 及到分經石臺下, 終知無字是眞經。

Lương triều Chiêu Minh thái tử phân kinh xứ Thạch đài do ký “Phân kinh” tự Đài cơ vu một vũ hoa trung Bách thảo kinh hàn tận khô tử Bất kiến di kinh tại hà sở Vãng sự không truyền Lương thái tử Thái tử niên thiếu nịch ư văn Cưỡng tác giải sự đồ phân phân Phật bản thị không bất trước vật Hà hữu hồ kinh an dụng phân Linh văn bất tại ngôn ngữ khoa Thục vi Kim Cương vi Pháp Hoa Sắc không cảnh giới mang bất ngộ Si tâm quy Phật Phật sinh ma Nhất môn phụ tử đa giao tế Nhất niệm chi trung ma tự chí Sơn lăng bất dũng liên hoa đài Bạch mã triêu độ Trường Giang thuỷ Sở lâm hoạ mộc trì ương ngư Kinh quyển thiêu hôi đài diệc dĩ Không lưu vô ích vạn thiên ngôn Hậu thế ngu tăng đồ quát nhĩ Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn Thuyết pháp độ nhân như Hằng Hà sa số Nhân liễu thử tâm nhân tự độ Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu Minh kính diệc phi đài Bồ đề bản vô thụ Ngã độc Kim Cương thiên biến linh Kì trung áo chỉ đa bất minh Cập đáo Phân kinh thạch đài hạ Chung tri vô tự thị chân kinh

Nơi Chiêu Minh thái tử triều Lương chia kinh Đài đá còn ghi chữ “Chia kinh” Nền đài gai góc lấp trong mưa bụi Trăm loài cỏ sợ lạnh đều chết khô hết Không thấy kinh còn lại nơi đâu Chỉ nghe kể chuyện thời xưa Lương thái tử thời niên thiếu say mê văn chương Gượng bày đặt phân tách chi ly rắc rối Phật vốn là không, chẳng vướng vào vật Có gì tuỳ thuộc vào kinh mà chia với phân? Văn thiêng không phải nhờ khoa ngôn ngữ Cái gì là kinh Kim Cương, cái chi là kinh Pháp Hoa? Cảnh giới Sắc Không mờ mịt không hiểu U mê mà theo Phật thì Phật sinh ra ma Cha con một nhà cùng mù quáng hết Chỉ trong một niệm, ma tự đến Ở nơi lăng núi không có đài sen nổi lên Một sớm ngựa trắng vượt sông Trường Giang Rừng nước Sở cháy, cây gặp tai hoạ, cá trong ao bị vạ Kinh cháy ra tro, đài cũng đổ Muôn nghìn lời để lại đều vô ích Chỉ để cho đám sư ngu dốt đời sau tụng đọc điếc tai Ta nghe nói đức Thế Tôn tại Linh Sơn Thuyết Pháp cứu người nhiều như cát sông Hằng Người hiểu tâm này, người tự độ Linh Sơn chính ở tại lòng ta Gương sáng không có đài Bồ đề vốn không cây Ta đọc Kinh Kim cương hơn nghìn lần Nhiều yếu chỉ sâu sắc trong đó ta không rõ Đến nay, dưới đài đá “Chia kinh” Mới hiểu kinh “không chữ” mới thật là chân kinh

梁朝昭明太子分經處, Lương triều Chiêu Minh thái tử phân kinh xứ Nơi Chiêu Minh thái tử triều Lương chia kinh

石臺猶記分經字。 Thạch đài do ký “Phân kinh” tự Đài đá còn ghi chữ “Chia kinh”

臺基蕪沒雨花中, Đài cơ vu một vũ hoa trung Nền đài gai góc lấp trong mưa bụi

百草驚寒盡枯死。 Bách thảo kinh hàn tận khô tử Trăm loài cỏ sợ lạnh đều chết khô hết

不見遺經在何所, Bất kiến di kinh tại hà sở Không thấy kinh còn lại nơi đâu

往事空傳梁太子。 Vãng sự không truyền Lương thái tử Chỉ nghe kể chuyện thời xưa

太子年少溺菸文, Thái tử niên thiếu nịch ư văn Lương thái tử thời niên thiếu say mê văn chương

強作解事徒紛紛。 Cưỡng tác giải sự đồ phân phân Gượng bày đặt phân tách chi ly rắc rối

佛本是空不著物, Phật bản thị không bất trước vật Phật vốn là không, chẳng vướng vào vật

何有乎經安用分。 Hà hữu hồ kinh an dụng phân Có gì tuỳ thuộc vào kinh mà chia với phân?

靈文不在言語科, Linh văn bất tại ngôn ngữ khoa Văn thiêng không phải nhờ khoa ngôn ngữ

孰為金剛為法華。 Thục vi Kim Cương vi Pháp Hoa Cái gì là kinh Kim Cương, cái chi là kinh Pháp Hoa?

色空境界茫不悟, Sắc không cảnh giới mang bất ngộ Cảnh giới Sắc Không mờ mịt không hiểu

癡心歸佛佛生魔。 Si tâm quy Phật Phật sinh ma U mê mà theo Phật thì Phật sinh ra ma

一門父子多膠蔽, Nhất môn phụ tử đa giao tế Cha con một nhà cùng mù quáng hết

一念之中魔自至。 Nhất niệm chi trung ma tự chí Chỉ trong một niệm, ma tự đến

山陵不涌蓮花臺, Sơn lăng bất dũng liên hoa đài Ở nơi lăng núi không có đài sen nổi lên

白馬朝渡長江水。 Bạch mã triêu độ Trường Giang thuỷ Một sớm ngựa trắng vượt sông Trường Giang

楚林禍木池殃魚, Sở lâm hoạ mộc trì ương ngư Rừng nước Sở cháy, cây gặp tai hoạ, cá trong ao bị vạ

經卷燒灰臺亦圯。 Kinh quyển thiêu hôi đài diệc dĩ Kinh cháy ra tro, đài cũng đổ

空留無益萬千言, Không lưu vô ích vạn thiên ngôn Muôn nghìn lời để lại đều vô ích

後世愚僧徒聒耳。 Hậu thế ngu tăng đồ quát nhĩ Chỉ để cho đám sư ngu dốt đời sau tụng đọc điếc tai

吾聞世尊在靈山, Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn Ta nghe nói đức Thế Tôn tại Linh Sơn

說法渡人如恆河沙數。 Thuyết pháp độ nhân như Hằng Hà sa số Thuyết Pháp cứu người nhiều như cát sông Hằng

人了此心人自渡, Nhân liễu thử tâm nhân tự độ Người hiểu tâm này, người tự độ

靈山只在汝心頭。 Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu Linh Sơn chính ở tại lòng ta

明鏡亦非臺, Minh kính diệc phi đài Gương sáng không có đài

菩提本無樹。 Bồ đề bản vô thụ Bồ đề vốn không cây

我讀金剛千遍零, Ngã độc Kim Cương thiên biến linh Ta đọc Kinh Kim cương hơn nghìn lần

其中奧旨多不明。 Kì trung áo chỉ đa bất minh Nhiều yếu chỉ sâu sắc trong đó ta không rõ

及到分經石臺下, Cập đáo Phân kinh thạch đài hạ Đến nay, dưới đài đá “Chia kinh”

終知無字是眞經。 Chung tri vô tự thị chân kinh Mới hiểu kinh “không chữ” mới thật là chân kinh

 

Thêm bài trả lời:

Mục này để gửi các nội dung liên quan đến bài thơ, bao gồm bản dịch, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.

Thể loại:

Tiêu đề:

Nội dung:

Chú thích:

Nguồn tham khảo, trích dẫn (mỗi nguồn một dòng):

Bình luận nhanh 0

Bạn chưa đăng nhập, vui lòng nhập thêm thông tin liên hệ để gửi bình luận nhanh.

Chưa có bình luận nhanh nào