Vụng, khéo nào ai chẳng có nghề, Khó khăn phải luỵ đến thê nhi. Được thời thân thích chen chân đến, Thất thế hương lân thỉnh mặt đi. Thớt có tanh tao ruồi đỗ bấy, Ang không mật mỡ kiến bò chi! Thế nay những trọng người nhiều của, Lặng đến tay không ai kẻ vì?

Theo Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm dựa theo các bản Nôm Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập (AB.635), Bạch Vân Am thi tập (AB.157), Trình quốc công Bạch Vân Am thi tập (AB.309). Bản quốc ngữ trong Văn đàn bảo giám : Vụng, khéo nào ai ‡ chả có nghề, Khó khăn ‡ ai luỵ đến thê nhi. Được ‡ thì thân thích ‡ đem chân đến, Thất thế hương ‡ lư ngoảnh mặt đi. Thớt có tanh tao ruồi đỗ ‡ đến, Gang không mật mỡ kiến bò chi! ‡ Đời nay những trọng người nhiều của, ‡ Bằng đến tay không ai kẻ vì? Ba câu thứ 2, 3, 4 của bài này trùng với ba câu tương ứng trong bài Thuật hứng 12 của Nguyễn Trãi. Chú thích: [1] “Hương lân” hay “hương lư” đều là hàng xóm. » Có 3 bài cùng chú thích: Dạy con gái phải có đức hạnh (Nguyễn Trãi) Hồi 02: Kiều chơi tết thanh minh (Nguyễn Du) Văn tế Nguyễn Thị Tồn (Bùi Hữu Nghĩa) [2] Đồ đựng, giống như cái vò nhưng thấp mà miệng loe, bằng đất nung hoặc bằng đồng. » Có 1 bài cùng chú thích: Bài 46 (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

Thêm bài trả lời:

Mục này để gửi các nội dung liên quan đến bài thơ, bao gồm bản dịch, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.

Thể loại:

Tiêu đề:

Nội dung:

Chú thích:

Nguồn tham khảo, trích dẫn (mỗi nguồn một dòng):

Bình luận nhanh 0

Bạn chưa đăng nhập, vui lòng nhập thêm thông tin liên hệ để gửi bình luận nhanh.

Chưa có bình luận nhanh nào