Hễ lộc triều quan đã có ngăn, Làm chi tham được mọc băn khoăn. Ải Tần non Thục đường nghèo hiểm, Cửa Khổng làng Nhan đạo khó khăn. Sách cũ ba pho, rỗi lại đọc, Cơm vàng hai bữa, đói thì ăn. Công nhờ trời đất ơn còn rộng, Che chở, điều hoà kẻo chiếu chăn.

Theo Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập (AB.635). Khảo dị theo các bản Bạch Vân Am thi tập (AB.157), Trình quốc công Bạch Vân Am thi tập (AB.309). Chú thích: [1] Xưa, Tần và Thục là hai nước thuộc Thiểm Tây và Tứ Xuyên, là những nơi xa xôi hiểm trở. Hà Dũ đi qua Tần Lĩnh có thơ. Lý Bạch cũng có bài Thục đạo nan . Ở đây chỉ con đường làm quan rất hiểm nghèo. [2] Khổng Tử và Nhan Hồi học trò ông, chỉ nơi học đạo và giới học đạo. Ý nói người có chí học đạo thánh hiền như Nhan Hồi rất hiếm, rất gian lao. [3] Khảo dị: “Công danh”.

 

Thêm bài trả lời:

Mục này để gửi các nội dung liên quan đến bài thơ, bao gồm bản dịch, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.

Thể loại:

Tiêu đề:

Nội dung:

Chú thích:

Nguồn tham khảo, trích dẫn (mỗi nguồn một dòng):

Bình luận nhanh 0

Bạn chưa đăng nhập, vui lòng nhập thêm thông tin liên hệ để gửi bình luận nhanh.

Chưa có bình luận nhanh nào