Lôi (Đại hạn sơn nhạc tiêu) 雷(大旱山嶽燋) • Sấm (Nắng to cháy cả núi rừng)
Một số bài cùng tác giả
– Tuyệt cú tứ thủ kỳ 3 絕句四首其三 • Tuyệt cú bốn bài kỳ 3– Tuyệt cú tứ thủ kỳ 3 絕句四首其三 • Tuyệt cú bốn bài kỳ 3
– Tuyệt cú tứ thủ kỳ 3 絕句四首其三 • Tuyệt cú bốn bài kỳ 3
– Tuyệt cú tứ thủ kỳ 3 絕句四首其三 • Tuyệt cú bốn bài kỳ 3
– Xuân vọng 春望 • Trông cảnh xuân
Một số bài cùng từ khóa
– Đại hạn– Trinh Nguyên thập tứ niên hạn thậm kiến quyền môn di thược dược hoa 貞元十四年旱甚見權門移芍藥花 • Năm Trinh Nguyên thứ 14 hạn lớn thấy quan quyền dời hoa thược dược
大旱山嶽燋, 密雲復無雨。 南方瘴癘地, 罹此農事苦。 封內必舞雩, 峽中喧擊鼓。 真龍竟寂寞, 土梗空俯僂。 籲嗟公私病, 稅斂缺不補。 故老仰面啼, 瘡痍向誰數。 暴尪或前聞, 鞭巫非稽古。 請先偃甲兵, 處分聽人主。 萬邦但各業, 一物休盡取。 水旱其數然, 堯湯免親睹。 上天鑠金石, 群盜亂豺虎。 二者存一端, 愆陽不猶愈。 昨宵殷其雷, 風過齊萬弩。 復吹霾翳散, 虛覺神靈聚。 氣暍腸胃融, 汗滋衣裳汙。 吾衰尤拙計, 失望築場圃。
Đại hạn sơn nhạc tiêu, Mật vân phục vô vũ. Nam phương chướng lệ địa, Ly thử nông sự khổ. Phong nội tất vũ vu, Giáp trung huyên kích cổ. Chân long cánh tịch mịch, Thổ ngạnh không phủ lũ. Dụ ta công tư bệnh, Thuế liễm khuyết bất bổ. Cố lão ngưỡng diện đề, Sang di hướng thuỳ số. Bạo uông hoặc tiền văn, Tiên vu phi kê cổ. Thỉnh tiên yển giáp binh, Xử phân thính nhân chủ. Vạn bang đãn các nghiệp, Nhất vật hưu tận thủ. Thuỷ hạn kỳ số nhiên, Nghiêu Thang miễn thân đổ. Thượng thiên thước kim thạch, Quần đạo loạn sài hổ. Nhị giả tồn nhất đoan, Khiên dương bất do dũ. Tạc tiêu ân kỳ lôi, Phong quá tề vạn nỗ. Phục xuy mai ế tán, Hư giác thần linh tụ. Khí yết trường vị dung, Hãn tư y thường ô. Ngô suy vưu chuyết kế, Thất vọng trúc trường phố.
Gặp hạn to, núi non cháy, Mây dầy mà không mưa. Nơi miềm nam oi bức, Bị vậy nên việc nông gặp khó. Trong vùng tất cầu vái, Nơi kẽm chiêng trống vang. Rồng thật đã im lìm, Tượng thần bằng đất hay gỗ cũng lớ ngớ. Than ôi cả việc công lẫn tư đều lo, Thuế má thiếu không nạp nổi. Các cụ già ngửa mặt than, Đau khổ này kể cùng ai. Hoặc nghe theo trước phơi tên gù đánh roi cô đồng, Không nghịch lại với thói xưa. Xin trước hết cất vũ khí đi, Làm đúng phận bằng cách nghe chủ loài người (trời). Vạn xứ đã có cơ ngơi rồi, Xin thôi vơ vét dù chỉ một vật. Hạn hán là chuyện thường tình, Vua Nghiêu, vua Thang cũng đâu có miễn không thấy cảnh đó. Trên trời nung chảy vàng, đá, Bọn cướp phá như hùm beo. Hai cái còn lại một mối, Gây tội với đời không kém đâu. Đêm qua sấm động dữ, Gió thổi nhanh gấpngàn mũi tên. Lại thổi tan hết mây mù, Chẳng thấy thần linh tụ tập. Khí nóng trong ruột, dạ hừng hực, Mồ hôi toát làm ướt áo quần. Tôi đã già lại vụng tính, Làm vườn nên bị thất bại.
大旱山嶽燋, Đại hạn sơn nhạc tiêu, Gặp hạn to, núi non cháy,
密雲復無雨。 Mật vân phục vô vũ. Mây dầy mà không mưa.
南方瘴癘地, Nam phương chướng lệ địa, Nơi miềm nam oi bức,
罹此農事苦。 Ly thử nông sự khổ. Bị vậy nên việc nông gặp khó.
封內必舞雩, Phong nội tất vũ vu, Trong vùng tất cầu vái,
峽中喧擊鼓。 Giáp trung huyên kích cổ. Nơi kẽm chiêng trống vang.
真龍竟寂寞, Chân long cánh tịch mịch, Rồng thật đã im lìm,
土梗空俯僂。 Thổ ngạnh không phủ lũ. Tượng thần bằng đất hay gỗ cũng lớ ngớ.
籲嗟公私病, Dụ ta công tư bệnh, Than ôi cả việc công lẫn tư đều lo,
稅斂缺不補。 Thuế liễm khuyết bất bổ. Thuế má thiếu không nạp nổi.
故老仰面啼, Cố lão ngưỡng diện đề, Các cụ già ngửa mặt than,
瘡痍向誰數。 Sang di hướng thuỳ số. Đau khổ này kể cùng ai.
暴尪或前聞, Bạo uông hoặc tiền văn, Hoặc nghe theo trước phơi tên gù đánh roi cô đồng,
鞭巫非稽古。 Tiên vu phi kê cổ. Không nghịch lại với thói xưa.
請先偃甲兵, Thỉnh tiên yển giáp binh, Xin trước hết cất vũ khí đi,
處分聽人主。 Xử phân thính nhân chủ. Làm đúng phận bằng cách nghe chủ loài người (trời).
萬邦但各業, Vạn bang đãn các nghiệp, Vạn xứ đã có cơ ngơi rồi,
一物休盡取。 Nhất vật hưu tận thủ. Xin thôi vơ vét dù chỉ một vật.
水旱其數然, Thuỷ hạn kỳ số nhiên, Hạn hán là chuyện thường tình,
堯湯免親睹。 Nghiêu Thang miễn thân đổ. Vua Nghiêu, vua Thang cũng đâu có miễn không thấy cảnh đó.
上天鑠金石, Thượng thiên thước kim thạch, Trên trời nung chảy vàng, đá,
群盜亂豺虎。 Quần đạo loạn sài hổ. Bọn cướp phá như hùm beo.
二者存一端, Nhị giả tồn nhất đoan, Hai cái còn lại một mối,
愆陽不猶愈。 Khiên dương bất do dũ. Gây tội với đời không kém đâu.
昨宵殷其雷, Tạc tiêu ân kỳ lôi, Đêm qua sấm động dữ,
風過齊萬弩。 Phong quá tề vạn nỗ. Gió thổi nhanh gấpngàn mũi tên.
復吹霾翳散, Phục xuy mai ế tán, Lại thổi tan hết mây mù,
虛覺神靈聚。 Hư giác thần linh tụ. Chẳng thấy thần linh tụ tập.
氣暍腸胃融, Khí yết trường vị dung, Khí nóng trong ruột, dạ hừng hực,
汗滋衣裳汙。 Hãn tư y thường ô. Mồ hôi toát làm ướt áo quần.
吾衰尤拙計, Ngô suy vưu chuyết kế, Tôi đã già lại vụng tính,
失望築場圃。 Thất vọng trúc trường phố. Làm vườn nên bị thất bại.
Bình luận nhanh 0
Chưa có bình luận nhanh nào