Cám cảnh Chiêu Quân mắc đứa gian, Ôm đàn riêng tếch cõi Dương Quan. Tơ đồng đất khách trong tay nắn, Sa tái đường xa dưới bước làn. Tiếng ngọc những lầm vầy khúc phượng, Hơi dê đâu dễ dính keo loan. Xin vua sang sửa an nhà nước, Hai chữ tri âm gửi gác vàng.

Chiêu Quân : Vương Chiêu Quân 王昭君 còn gọi là Minh Phi 明妃 hay Minh Quân 明君 tên thật là Vương Tường 王嬙, nhũ danh Hạo Nguyệt 皓月, tự Chiêu Quân, là người đẹp được tôn vinh là một trong Tứ đại mỹ nhân trong lịch sử Trung Quốc, cùng với ba người kia là Tây Thi, Điêu Thuyền, Dương Quý Phi. Nàng là người làng Tỷ Quy, huyện Nam Quận, nay là huyện Quỳ Châu, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Theo Hán thư , nàng nguyên là cung nhân của Hán Nguyên Đế từ năm 15 tuổi với thân phận là một gia nhân tử, tức hàng phi tần vô danh không có tước hiệu trong chế độ nhà Hán. Thời đó Hung Nô rất mạnh, thường xuyên quấy nhiễu trung nguyên, nhà Hán hằng năm vẫn phải cống vàng bạc, vải lụa, mỹ nhân, trâu ngựa theo sách lược hoà thân từ thời Lưu Bang. Năm 33 TCN, thiền vu Hung Nô là Hô Hàn Tà 呼韓邪 đến kinh đô Trường An để thần phục nhà Hán, đề nghị được trở thành con rể của Nguyên Đế. Hoàng đế thuận theo, ban cho cho 5 cung nhân trong hậu cung, và một trong số ấy là Vương Chiêu Quân. Sau khi làm vợ chúa Hung Nô, nàng được phong hiệu Ninh Hồ yên chi 寧胡阏氏, sinh được một con trai. Nàng mang trọng trách làm cầu nối giữa nhà Hán và Hung Nô thời đó. Đến đời Tấn, Tấn Vũ Để để tránh phạm huý cha mình là Tư Mã Chiêu, cho đổi gọi tên nàng là Minh Quân hay Minh Phi. Theo một giai thoại chép trong Tây Kinh tạp ký 西京雜記 được lưu truyền từ cuối đời Hán rằng do số phi tần của Hán Nguyên Đế quá đông, nên hoàng đế lệnh hoạ sư vẽ lại chân dung để dựa vào nhan sắc mà sẽ triệu hạnh. Các cung phi thường lo lót tiền cho hoạ công Mao Diên Thọ 毛延壽 để được vẽ cho đẹp, chỉ Vương Tường không đút lót nên chân dung không đến được hoàng đế. Khi Hung Nô đến chầu, xin mỹ nhân để làm yên chi, Nguyên Đế chọn trong số chân dung, thấy Chiêu Quân tầm thường, nên chọn để phái đi Hung Nô. Trước nàng diện kiến, thấy dung mạo không ai bì kịp, Nguyên Đế hối hận nhưng chuyện đã định nên không thể thay đổi, sai chém Mao Diên Thọ cùng các hoạ công khác. Một dị bản của giai thoại này là Chiêu Quân tự vẽ chân dung mình, nhưng bức tranh đó trước khi dâng lên vua bị Mao Diên Thọ điểm thêm nốt ruồi, thuật số thường gọi là tướng sát chồng. Chiêu Quân trên đường tới Hung Nô, khi tới biên cương là một nơi hoang mạc rộng lớn, nàng ngồi trên ngựa buồn u uất mà cầm một cây tỳ bà đàn một khúc gọi là Xuất tái khúc 出塞曲 và làm một số bái thơ ai oán, trong đó có bài Chiêu Quân oán 昭君怨 được chép trong Nhạc phủ thi tập . Một con nhạn bay ngang qua nghe nỗi u oán cảm thương trong khúc điệu liền ruột gan đứt đoạn và sa xuống đất, nên nàng được tôn vinh là người có khả năng làm chim sa cá lặn (trầm ngư lạc nhạn 沉魚落雁). Do giai thoại này, Chiêu Quân xuất tái 昭君出塞 trở thành một đề tài sáng tác phổ biển của thi ca, nghệ thuật ngày trước. Truyện Kiều : “Quá quan này khúc Chiêu Quân, Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia”. Năm 20 TCN, Hô Hàn Tà chết, nàng tiếp tục làm vợ của người con là thiền vu Phục Chu Luy 復株累 lên thay, theo tục của người Hung Nô, sinh thêm được hai con gái. Sử sách không chép về cái chết của nàng. Sách Thông điển đời Đường chép sau khi mất tại Hung Nô, nàng được chôn ở bờ nam sông Đại Hắc gần Hồi Hột, nay thuộc Nội Mông. Ở đây mặc dù mùa thu cây cỏ đều tàn úa nhưng mộ nàng vẫn quanh năm xanh tươi như ở trung nguyên, nên người ta gọi là “thanh trủng” 青塚 (nấm mồ xanh). Hình: Tranh Chiêu Quân xuất tái (cục bộ) của Cung Tố Nhiên 宫素然 đời Nam Tống » Có 49 nội dung dùng giải nghĩa: Minh Phi khúc, hoạ Vương Giới Phủ tác kỳ 1 (Âu Dương Tu) Chiêu Quân từ kỳ 1 (Bạch Cư Dị) Phú đắc thính biên hồng (Bạch Cư Dị) Chiêu Quân (Cao Bá Quát) Minh Phi oán (Dương Đạt) Cống Hồ (Đoàn Thị Lam Luyến) Thanh trủng (Đỗ Mục) Đại Lịch tam niên xuân Bạch Đế thành phóng thuyền xuất Cù Đường giáp, cửu cư Quỳ Phủ tương thích Giang Lăng phiêu bạc, hữu thi phàm tứ thập vận (Đỗ Phủ) Vịnh hoài cổ tích kỳ 3 - Vịnh Chiêu Quân (Đỗ Phủ) Vịnh Chiêu Quân (Đông Hồ) Chiêu Quân oán kỳ 1 (Đông Phương Cầu) Minh Phi khúc (Đường Cao) Vương Chiêu Quân (Hạo Nhiên thiền sư) Vương Chiêu Quân (Hồ Lệnh Năng) Vịnh sử thi - Hán cung (Hồ Tằng) Chiêu Quân (Huỳnh Mẫn Đạt) Vương Tường bái yết Hán Vương (Khuyết danh Việt Nam) Vương Tường oán trách non sông (Lê Thánh Tông) Vịnh sử kỳ 46 - Vương Chiêu Quân (Liên Hoành) Vương Minh Quân kỳ 1 (Lư Long Vân) Vu Điền thái hoa (Lý Bạch) Vương Chiêu Quân kỳ 1 (Lý Bạch) Hoạ Nhiếp Nghi Bộ “Minh Phi khúc” (Lý Phan Long) Trúc chi kỳ 3 (Lý Thiệp) Vương Chiêu Quân (Lý Thương Ẩn) Thính Vương thị thoại Quy Châu Chiêu Quân miếu (Lý Viễn) Vương Tường (Ngân Giang) Minh Phi kỳ 1 (Ngô Ỷ) Hồi 04: Kiều thề nguyền với Kim Trọng (Nguyễn Du) Minh Phi khúc (Nguyễn Hàm Ninh) Ca tịch (Nguyễn Khuyến) Chiêu Quân mộ (Phan Huy Ích) Chiêu Quân (Quang Dũng) Tế Chiêu Quân (Tản Đà) Minh Phi (Tào Tuyết Cần) Thanh trủng hoài cổ (Tào Tuyết Cần) Vương Chiêu Quân từ (Thạch Sùng) Chiêu Quân (Thái Can) Chiêu Quân xuất tái (Thái Thuận) Vương Chiêu Quân (Hán sứ nam hoàn tận) (Thôi Quốc Phụ) Vương Chiêu Quân (Nhất hồi vọng nguyệt nhất hồi bi) (Thôi Quốc Phụ) Tái hạ khúc kỳ 4 (Thường Kiến) Trúc chi ca kỳ 7 (Tôn Tung) Để Di Lăng Chí Hỉ (Trần Thị Tập) Vương Chiêu Quân (Trương Trọng Tố) Bạc tình (Vũ Hoàng Chương) Minh Phi khúc kỳ 1 (Vương An Thạch) Đề Chiêu Quân đồ (Vương Miện) Minh Phi khúc kỳ 1 (Xà Tường) Chú thích: [1] Chỉ Mao Diên Thọ. [2] Dương Quan ( 39.927,94.059 ): Dương Quan 陽關 là tên một quan ải thời xưa, vị trí nay ở huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc của Trung Quốc, được lập khoảng năm 120 TCN vào thời Hán Vũ Đế Lưu Triệt 劉徹 (156 TCN - 87 TCN) để từ trung nguyên đi vào Tây Vực. Thành luỹ của cửa ải này bị phá huỷ khoảng năm 900 vào thời nhà Đường. Có thuyết giải thích chữ “Dương” trong tên cửa ải là phía nam vì ải này nằm ở phía nam của Ngọc Môn Quan 玉門關. Đây là hai cửa ải quan trọng bậc nhất của Trung Quốc thời xưa, còn được gọi chung là Nhị Quan. Dương Quan được nhắc tới trong bài Đường thi Tống Nguyên nhị sứ An Tây 送元二使安西 nổi tiếng của Vương Duy 王維, đã được phổ thành cầm khúc Dương Quan tam điệp 陽關三疊, còn được gọi là Dương Quan khúc 陽關曲 hay Vị Thành khúc 渭城曲, nhưng đến đời Tống thì thất truyền. Đây là bài thơ tống biệt nên người đời cũng dùng chữ Dương Quan với ý nghĩa đưa tiễn nhau. Tô Thức bàn về Dương Quan tam điệp : “Dư tại Mật Châu, Văn Huân trưởng quan dĩ sự chí Mật, tự vân đắc cổ bản Dương Quan , mỗi cú giai tái xướng, nhi đệ nhất cú bất điệp, nãi tri cổ bản tam điệp cái như thử” 余在密州,文勛長官以事至密,自云得古本《陽關》,每句皆再唱,而第一句不疊,乃知古本三疊蓋如此 (Ta ở Mật Châu, Văn Huân trưởng quan có việc đến Mật Châu, bảo rằng có được bản Dương Quan cổ, mỗi câu đều hát lại, duy có câu đầu không lặp, thế mới biết bản cổ tam điệp là như vậy). Theo câu bàn đó của Tô Thức thì Dương Quan tứ điệp có lẽ ở đời Tống là hát lặp lại cả 4 câu trong bài thơ. Thơ văn xưa cả của Trung Quốc và Việt Nam hay dùng chữ Dương Quan để nói về cảnh xa cách. Truyện Kiều : “Sông Tần một dải xanh xanh, Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan.” Hình: Dương Quan ngày nay » Có 22 nội dung dùng giải nghĩa: Trùng biệt Chu thượng thư (Dữu Tín) Tiễn Hưng Nhân Lê doãn phó khuyết kỳ 2 (Đoàn Huyên) Quá Thanh Hoá Thổ Sơn đồn (Hoàng Nguyễn Thự) Thiếu niên du (Sâm si yên thụ Bá Lăng kiều) (Liễu Vĩnh) Lãng đào sa - Đan Dương Phù Ngọc đình tịch thượng tác (Lục Du) Điệp luyến hoa - Vãn chỉ Xương Lạc quán ký tỷ muội (Lý Thanh Chiếu) Phụng Hoàng đài thượng ức xuy tiêu (Lý Thanh Chiếu) Tặng ca kỹ kỳ 1 (Lý Thương Ẩn) Đáp chư hữu tặng biệt nguyên vận (Ngô Nhân Tịnh) Quá quan lưu tặng Phan ngự sử, Vũ Công bộ, Ngô hiệp trấn kỳ 1 (Ngô Thì Nhậm) Hồi 14: Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư (Nguyễn Du) Tiễn chế đài Trần Trực chi ông quy Phần Hoàng (Nguyễn Đức Đạt) Bính Dần ngũ nguyệt dĩ Quảng Bình án sát sứ mông thăng hồi kinh Học bộ thị lang lâm hành lưu giản (Nguyễn Phúc Ưng Bình) Hoạ Quảng Bình đồng thành Phiên Sứ Ngọc Trang Hoàng Kiêm tiên sinh thuyên thăng Hà Tĩnh tuần phủ lưu giản nguyên vận kỳ 1 (Nguyễn Phúc Ưng Bình) Giáp Ngọ quý xuân hương thí, sắc chỉ bân tống Hà Trung huấn đạo Nguyễn khế phó giáo sở ứng vụ, ngã diệc đính kỳ tựu Nam ty, dĩ thi tác biệt (Phan Huy Ích) Giá cô thiên - Tống nhân (Tân Khí Tật) Tái hạ khúc (Thẩm Đức Tiềm) Thứ vận chánh sứ Đàm hiệu thư Văn Lễ (Thân Nhân Trung) Dương Quan khúc - Trung thu tác (Tô Thức) Chu trung đoan dương (Trịnh Hoài Đức) Vị Thành khúc - Tống Nguyên nhị sứ An Tây (Vương Duy) Tòng quân hành (Vương Thế Trinh) » Có 21 bài cùng chú thích: Bính Dần ngũ nguyệt dĩ Quảng Bình án sát sứ mông thăng hồi kinh Học bộ thị lang lâm hành lưu giản (Nguyễn Phúc Ưng Bình) Chu trung đoan dương (Trịnh Hoài Đức) Đáp chư hữu tặng biệt nguyên vận (Ngô Nhân Tịnh) Điệp luyến hoa - Vãn chỉ Xương Lạc quán ký tỷ muội (Lý Thanh Chiếu) Giá cô thiên - Tống nhân (Tân Khí Tật) Giáp Ngọ quý xuân hương thí, sắc chỉ bân tống Hà Trung huấn đạo Nguyễn khế phó giáo sở ứng vụ, ngã diệc đính kỳ tựu Nam ty, dĩ thi tác biệt (Phan Huy Ích) Hoạ Quảng Bình đồng thành Phiên Sứ Ngọc Trang Hoàng Kiêm tiên sinh thuyên thăng Hà Tĩnh tuần phủ lưu giản nguyên vận kỳ 1 (Nguyễn Phúc Ưng Bình) Hồi 14: Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư (Nguyễn Du) Lãng đào sa - Đan Dương Phù Ngọc đình tịch thượng tác (Lục Du) Phụng Hoàng đài thượng ức xuy tiêu (Lý Thanh Chiếu) Quá quan lưu tặng Phan ngự sử, Vũ Công bộ, Ngô hiệp trấn kỳ 1 (Ngô Thì Nhậm) Quá Thanh Hoá Thổ Sơn đồn (Hoàng Nguyễn Thự) Tái hạ khúc (Thẩm Đức Tiềm) Tặng ca kỹ kỳ 1 (Lý Thương Ẩn) Thiếu niên du (Sâm si yên thụ Bá Lăng kiều) (Liễu Vĩnh) Thứ vận chánh sứ Đàm hiệu thư Văn Lễ (Thân Nhân Trung) Tiễn chế đài Trần Trực chi ông quy Phần Hoàng (Nguyễn Đức Đạt) Tiễn Hưng Nhân Lê doãn phó khuyết kỳ 2 (Đoàn Huyên) Tòng quân hành (Vương Thế Trinh) Trùng biệt Chu thượng thư (Dữu Tín) Vị Thành khúc - Tống Nguyên nhị sứ An Tây (Vương Duy) [3] Dây đàn (làm bằng gỗ cây ngô đồng). » Có 1 bài cùng chú thích: Hồi 16: Kiều ở nhà họ Hoạn (Nguyễn Du) [4] Cửa ải đầy cát bụi. [5] Tiếng đàn trong như tiếng ngọc. » Có 1 bài cùng chú thích: Hoạ thơ Trùng Quang Đế (Nguyễn Biểu) [6] Chỉ người Hung Nô tanh hôi vì ăn nhiều thịt dê. [7] Keo chế bằng máu chim loan có độ dính cao, tương truyền nối được dây cung đứt. Bác vật chí : Thời Hán Vũ Đế, nước Tây Hải có người đem dâng năm lạng keo. Vua cho đem cất vào kho. Còn thừa nửa lạng, sứ thần Tây Hải giữ mang theo người. Sứ thần theo vua đi bắn ở cùng Cam Tuyền. Dây cung vua đứt, các quan định thay. Sứ thần Tây Hải xin lấy keo loan nối lại. Nối xong, vua sai lực sĩ kéo mỗi người một đầu dây, nhưng vẫn không việc gì. Cung có thể bắn suốt ngày mà không đứt. [8] Chỉ cung vua Hán.

 

Thêm bài trả lời:

Mục này để gửi các nội dung liên quan đến bài thơ, bao gồm bản dịch, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.

Thể loại:

Tiêu đề:

Nội dung:

Chú thích:

Nguồn tham khảo, trích dẫn (mỗi nguồn một dòng):

Bình luận nhanh 0

Bạn chưa đăng nhập, vui lòng nhập thêm thông tin liên hệ để gửi bình luận nhanh.

Chưa có bình luận nhanh nào