Nam Trân Nguyễn Học Sỹ, Tương Như ♂
Nam Trân (15/2/1907 - 21/12/1967) chính tên là Nguyễn Học Sỹ, còn có bút danh Tương Như, sinh tại làng Phú Thứ Thượng, xã Đại Quang, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, mất tại Hà Nội. Học chữ Hán đến năm 12 tuổi và đã tập làm những lối văn trường ốc. Sau học Trường quốc học Huế, trường Bảo Hộ Hà Nội. Có bằng Tú tài bản xứ. Làm Tham tá toà khâm sứ Huế, sau đó làm Tá lý Bộ lại và Thị lang Bộ lại.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia kháng chiến, công tác ở Uỷ ban kháng chiến hành chính huyện Đại Lộc, Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Nam, rồi làm chánh văn phòng Uỷ ban kháng chiến hành chánh liên khu Việt Nam 1954 ông tập kết ra Bắc, công tác ở Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam. Năm 1959 công tác tại viện Văn học, chuyên về dịch thuật. Ông cũng là một trong những cán bộ giảng dạy lớp đại học Hán Nôm đầu tiên ở miền Bắc, do uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam tổ chức. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1957).
Các tác phẩm: Huế, đẹp và thơ (1939), Ca dao thi đua, Vườn hạnh phúc (thơ).
Ông đã đăng thơ trên các báo và tạp chí: Nam Phong tạp chí, Văn học, Sa Đéc, An Nam tạp chí, Phong hoá, Tràng An, Tân tiến...
Ông là người dịch bản Ngục trung nhật ký xuất bản lần đầu năm 1960.
Ngoài ra, ông cùng dịch với nhiều tác giả trong Thơ Đường I và II (giới thiệu và dịch với các bút danh Nam Trân, Tương Như), Thơ Tống, Thơ và từ của Mao Trạch Đông, Thơ văn Lý Trần, Thơ Quách Mạt Nhược, Người Xô Viết chúng tôi,...
Nam Trân (15/2/1907 - 21/12/1967) chính tên là Nguyễn Học Sỹ, còn có bút danh Tương Như, sinh tại làng Phú Thứ Thượng, xã Đại Quang, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, mất tại Hà Nội. Học chữ Hán đến năm 12 tuổi và đã tập làm những lối văn trường ốc. Sau học Trường quốc học Huế, trường Bảo Hộ Hà Nội. Có bằng Tú tài bản xứ. Làm Tham tá toà khâm sứ Huế, sau đó làm Tá lý Bộ lại và Thị lang Bộ lại.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia kháng chiến, công tác ở Uỷ ban kháng chiến hành chính huyện Đại Lộc, Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Nam, rồi làm chánh văn phòng Uỷ ban kháng chiến hành chánh liên khu Việt Nam 1954 ông tập kết ra Bắc, công tác ở Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam. Năm 1959 công tác tại viện Văn học, chuyên về dịch thuật. Ông cũng là một trong những cán bộ giảng dạy lớp…
Danh sách bài thơ
- Anh chài tự đắc
- Bài hát của đại phi công
- Bài thơ nhất cú hay là nỗi khổ tâm của thi sĩ
- Bỏ lối thơ xưa
- Bỏ quách lối thơ xưa
- Cánh cửa
- Cảnh quê
- Cầu bạn
- Chôn hoa
- Đẹp và thơ (Cô gái Kim Luông)
- Điếu thuốc cháy suông
- Đời người
- Eng
- Gặp khách đong đưa
- Giận khúc Nam ai
- Hà Nội, mưa phùn
- Hái hoa hồng
- Hồ Tịnh Tâm hay chuồn chuồn
- Huế, đêm hè
- Huế, mưa dầm
- Huế, ngày hè
- Khiêu vũ 1935
- Khoá xuân
- Ký đệ tử thi 寄弟子詩 • Thơ gửi học trò
- Liên tưởng
- Một câu thơ của ông Tú Mỡ
- Mùa đông, cánh đồng An Cựu
- Nắng thu
- Ngại ngùng khi bước chân ra
- Nụ cười giai nhân
- Núi Ngự, sông Hương
- Sầm Sơn trường hận
- Sơn còn ướt
- Sóng bạc tình
- Tiếng chuông Diệu Đế
- Tôi và ta
- Trên núi Ngự
- Trước chùa Thiên Mụ
- Từ Thức động dạ du
- Vườn cau Nam Phổ
THÊM BÀI TRẢ LỜI:
Mục này để gửi các nội dung liên quan đến tác giả, bao gồm tiểu sử, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.
Đăng nhập để gửi bài trả lời cho tác giả này.