Thủ Thiêm, Thủ Đức, Bến Lức, Thủ Đoàn, Anh phải lòng nàng tại Thủ Chiến Sai.

Chú thích: [1] Thủ Thiêm ( 10.777,106.710 ): Tên bến đò xuất hiện vào khoảng năm 1912 để vận chuyển người và hàng hoá qua sông Sài Gòn, nay là một phường thuộc Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo Đại Nam nhất thống chí : “Ở thôn Giai Quý, huyện Nghĩa An có chợ tục gọi là Cựu Thiêm. Trước chợ có sông Bình Giang, đối diện tỉnh Gia Định. Tàu biển, thuyền sông tấp nập, dân sở tại làm nghề chở đò ngang, đò dọc và theo dòng nước đem bán thực phẩm như cá, thịt, rau, quả.” Huyện Nghĩa An nay là Quận 2 và Quận 9. Sông Bình Giang tức sông Sài Gòn. Theo từ điển Địa danh Sài Gòn , địa danh Thủ Thiêm có từ cuối thế kỷ 18. Lúc đó, vùng này còn hoang sơ, có nhiều đình, chùa, miếu thờ, người dân đến sống chưa nhiều. Nhưng đến đầu thế kỷ 20, khi bến đò Thủ Thiêm xuất hiện, nhiều người kéo đến sinh sống, làm ăn và khu vực này dần trở nên đông đúc. Lúc ban đầu, người ta dùng sức người chèo đò sang sông, về sau dần dần thay thế bằng thuyền máy đuôi tôm. Bến đò này sau trở thành bến phà. Từ năm 2012, bến phà dừng hoạt động sau khi đã có nhiều hầm và cầu qua sông Sài Gòn được xây. Hình: Bến đò Thủ Thiêm Hình: Bến phà Thủ Thiêm phía sông Sài Gòn năm 1965 Hình: Cầu Ba Son ngày nay gần khu vực bến phà Thủ Thiêm cũ » Có 4 nội dung dùng giải nghĩa: Chừng nào Chợ Lớn hết vôi (Khuyết danh Việt Nam) Chừng nào Chợ Quán hết vôi (Khuyết danh Việt Nam) Ngày đi trăm hẹn, trăm hò (Khuyết danh Việt Nam) Ngó lên trên chợ Thủ Thiêm (Khuyết danh Việt Nam) » Có 4 bài cùng chú thích: Chừng nào Chợ Lớn hết vôi (Khuyết danh Việt Nam) Chừng nào Chợ Quán hết vôi (Khuyết danh Việt Nam) Ngày đi trăm hẹn, trăm hò (Khuyết danh Việt Nam) Ngó lên trên chợ Thủ Thiêm (Khuyết danh Việt Nam) [2] Nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. » Có 1 bài cùng chú thích: Đi đâu mà chẳng biết ta (Khuyết danh Việt Nam) [3] Bến Lức, Thủ Đoàn nay thuộc tỉnh Long An. [4] Thủ Chiến Sai hay Chiến Sai Thủ Sở, nằm ở phía tây sông Vàm Nao, nay thuộc xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Chiến Sai, vốn là tên Kiến Sai (tên Khmer là Kiên Svai, có nghĩa là chòm cây xoài) nói trại ra. Thủ là đồn để canh giữ, bảo vệ việc đi lại trên sông rạch.

 

Thêm bài trả lời:

Mục này để gửi các nội dung liên quan đến bài thơ, bao gồm bản dịch, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.

Thể loại:

Tiêu đề:

Nội dung:

Chú thích:

Nguồn tham khảo, trích dẫn (mỗi nguồn một dòng):

Bình luận nhanh 0

Bạn chưa đăng nhập, vui lòng nhập thêm thông tin liên hệ để gửi bình luận nhanh.

Chưa có bình luận nhanh nào