Lý Phật Mã vâng lời di chiếu Đến cấm thành mới hiểu ra rằng Ba em mai phục thân quân Giết mình để đoạt ngai vàng về tay Xác vua cha còn đây chưa liệm Sao ba em toan chiếm ngai vàng Đông Chinh, Thánh Dực, Võ Vương Rõ là cốt nhục tương tàn buồn thay Cuộc chính biến, ba tay vương tử Khiến triều đình phải xử cho nghiêm Có quan Phụng Hiểu điện tiền Rút gươm thẳng đến chém liền Võ Vương Lý Phật Mã trong cơn bối rối Lên ngôi vua hiệu đổi Thiên Thành Tôn cha, Thái Tổ thần danh Quốc tang bố cáo trong thành, ngoài biên Vua tha cho bọn em dấy loạn Lấy tình người đổi oán bằng ân Đem tiền, gạo phát cho dân Gọi là bố thí ngay lần lên ngôi Vua lại sai đặt ra thứ bậc Để trao quyền cho thật phân minh Lựa người tài giỏi nghề binh Phong làm thượng tướng giữ gìn quốc gia Vua lập ra bảy bà hoàng hậu Là một điều nhiên hậu không ai Sách phong thái tử truyền ngai Nhật Tôn hoàng tử được ngài ban cho Là một người nhân từ sáng suốt Lại hiểu thông thao lược kinh luân Sáu nghề lễ nhạc luật âm Ngự văn, thư số cũng trang anh tài Suốt một đời trên ngai hoàng đế Bước trường chinh tế thế đông, tây Ở ngôi hăm bảy năm đầy Tám lần chinh phạt dạn dày phong sương Đánh Trệ Nguyên chặn đường Tồn Phúc (1033) Phạt Chiêm Thành quy phục nhân tâm (1039) Dải dầu chín tháng hành quân Chém đầu Sạ Đẩu, giết gần vạn binh (1044) Vua xuống chiếu soạn thành bộ luật Ghi rõ ràng cho thật phân minh Chia ra môn loại rành rành Đâu là dân luật, luật hình, luật quân Bộ Hình Thư được dân mong muốn (1042) Bởi vì là thích ứng mọi nơi Luật nghiêm lại hợp tình người Công bằng đúng lẽ thuận trời, an dân Tội gian dâm, tội đồ, hối lộ Soạn thành văn lý số rõ ràng Những ai làm việc lâu năm Mà không có lỗi được thăng chức liền Vua lại sai đóng thuyền cỡ lớn Hạ thuỷ đầu chiến hạm Vạn An (1034) Vinh Xuân, rồi chiếc Nhật Quang (1037) Thuỷ quân cũng đóng vài trăm tiểu thuyền (1043) Vua hạ lệnh đào kênh Đãn Nãi (1029) Rồi lại sai vét đãi Lẫm Kênh (1050) Đặt mốc, cắm biển đề tên Chỉ đường, hướng lối kế bên vệ đường Trạm Hoài Viễn để giường khách nghỉ Xây trên bờ bên mé Gia Lâm (1035) Tây Nhai mở chợ cho dân Trên sông Tô Lịch bắc ngang chiếc cầu Lệ từ lâu, năm nào cũng thế Vua thân hành tế lễ Thần Nông Tịch điền ruộng đã cày xong Nêu gương thiên hạ dốc lòng làm ăn Vua lại dạy cung nhân dệt gấm (1040) Phát trống kho gấm Tống làm quà Từ đây sử dụng lụa nhà Trong dân sản xuất; của ta, ta dùng Dạy Hoàn Vương chấp cung xét hỏi Việc kiện thưa xử tội rồi tâu Lại cho thái tử coi chầu Để nghe chính sự ngõ hầu ngày sau (1054) Thuật dạy con bắt đầu như thế Cho muôn đời lấy để làm gương Tính vua đôi lúc bất thường Thích nghe sấm ký khoa trương việc mình Trong cấm thành buồn tình giải trí Lập đoàn ca nhạc kỷ trăm người Vào rừng Kha Lãm tìm voi Dựng chùa Diên Hựu, xây đài chứa Kinh (1049) Khắp đất nước thanh bình an lạc Vua là người trầm mặc tinh thông Tháng mười Giáp Ngọ, tiết đông (1054) Trường Xuân vua mất đau lòng con dân Là một người bội phần cơ trí Việc quốc gia chăm chỉ sớm hôm Tiếc rằng hay nói khoe khoang Là người khai sáng mối nguồn về sau

 

Thêm bài trả lời:

Mục này để gửi các nội dung liên quan đến bài thơ, bao gồm bản dịch, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.

Thể loại:

Tiêu đề:

Nội dung:

Chú thích:

Nguồn tham khảo, trích dẫn (mỗi nguồn một dòng):

Bình luận nhanh 0

Bạn chưa đăng nhập, vui lòng nhập thêm thông tin liên hệ để gửi bình luận nhanh.

Chưa có bình luận nhanh nào