Bà Nguyễn Thị Kim
Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Cao Bá Quát
Thể thơ: Chưa phân loại
Thời kỳ: Chưa rõ
0 bài trả lời
0 người thích
Từ khoá:
trinh tiết (16) Nguyễn Thị Kim (2)
Thời kỳ: Chưa rõ
0 bài trả lời
0 người thích
Từ khoá:
trinh tiết (16) Nguyễn Thị Kim (2)
Một số bài cùng tác giả
– Vấn hà mô 問蝦蟆 • Hỏi ễnh ương– Bảo Xuyên Lê ông kiến hoạ dư thi, nhân ký bách nhãn lê, phụng thứ lai vận 寶川黎翁見和余詩,因寄百眼梨,奉次來韻 • Thấy ông Lê Bảo Xuyên hoạ thơ tôi, nhân gửi biếu quả na, kính hoạ bài gửi tới
– Dạ bán nạp lương đồng Trần Ngộ Hiên, Lê Trực Hiên 夜半納涼同陳悟軒,黎直軒 • Nửa đêm hóng mát cùng Trần Ngộ Hiên, Lê Trực Hiên
– Dữ thi hữu Phan Long Trân du Côn Sơn nhân tác Côn Sơn hành vân 與詩友潘龍珍遊崑山因作崑山行云 • Nhân cùng bạn thơ Phan Long Trân chơi Côn Sơn làm bài ca Côn Sơn
– Đề Phụng Tá sứ quân hoạ lý đồ 題鳳佐使君畫鯉圖 • Đề tranh cá chép của sứ quân ở Phụng Tá
Một số bài cùng từ khóa
– Bẽn lẽn– Bẽn lẽn
– Viếng hồn trinh nữ
– Chữ trinh đáng giá nghìn vàng
– Tiếng hát sông Hương
Đăng bởi Admin
vào 16/03/2026 18:22
Triều Lê quý có nàng tiết liệt, Hai mươi năm những hận thù Tây. Đem tàn dung nương chốn am mây, Đạo thần tử tình trong phu phụ. Vạn cổ di luân chiêu vũ trụ, Nhất xoang trung nghĩa đáp quân vương. Nặng hai vai một gánh cương thường, Chén tân khổ nhắp ngon mùi chính khí. Đã nên đấng trung thần bất nhị, Lại nên tài liệt nữ bất canh. Rõ ràng hai chữ trung trinh.
Bà Nguyễn Thị Kim quê làng Tỳ Bà, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, là thứ phi của vua Lê Chiêu Thống. Năm 1788 vua Quang Trung đưa quân ra Bắc Hà, đánh đuổi quân Thanh. Chiêu Thống theo Tôn Sĩ Nghị chạy sang Tàu, bà đi theo không kịp, về quê ẩn lánh trong chùa. Sau Chiêu Thống chết ở bên Tàu.
Năm Gia Long thứ 3 (1804), cố thần nhà Lê đưa di hài Chiêu Thống về nước, bà lên cửa Nam Quan đón, phục tang khóc lóc. Khi di hài về đến thành Thăng Long, làm lễ ninh lăng và mọi việc xong, bà bảo với người nhà “công việc của ta như thế là trọn rồi”, nói xong uống thuốc độc chết. Quan tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành được tin, thân đến cấp cho đồ tang tế rất hậu, làm sớ tâu lên triều đình.
Năm Minh Mạng thứ nhất (1820), vua ban cho bà 4 chữ “An trinh tuẫn tiết” 安貞殉節, sai quan khâm mạng đến dựng bia, khắc 4 chữ ấy ở từ đường thờ bà. Lại ban 20 mẫu ruộng tự điền lấy hoa lợi mà cung vào đèn hương giỗ chạp và cấp cho 2 người sái phu để quét dọn từ đường và trông nom phần mộ.
Chú thích:
[1]
Cuối đời nhà Lê.
[2]
Thù với nhà Tây Sơn.
[3]
Chữ Hán: 萬古彝倫昭宇宙,一肛忠義答君王 (Muôn đời luân thường chói lọi trong vũ trụ; Một lòng trung nghĩa báo đáp quân vương).
[4]
Chí khí mạnh lớn ở trong trời đất. Bài
Chính khí ca
của Văn Thiên Tường đời Tống:
Thiên địa hữu chính khí,
Tạp nhiên phú lưu hình.
Hạ tắc vi hà nhạc,
Thượng tắc vi nhật tinh.
天地有正氣,
雜然賦流形。
下則為河岳,
上則為日星。
(Trời đất có chính khí,
Lẫn lộn vào những vật có hình.
Ở dưới làm sông núi,
Ở trên trời làm mặt trời và trăng sao.)
» Có
1
bài cùng chú thích:
Văn tế phò mã chưởng hậu quân Võ Tánh và Lễ bộ thượng thư Ngô Tùng Châu
(Đặng Đức Siêu)
[5]
Sách
Sử ký
: “Trung thần bất sự nhị quân, liệt nữ bất canh nhị phu” 忠臣不事二君,烈女不更二夫 (Kẻ trung thần không thờ hai vua, người liệt nữ không đổi hai chồng).
[6]
Trung là một lòng với vua với nước, trinh là một lòng với chồng.
Bình luận nhanh 0
Chưa có bình luận nhanh nào