Xuân Quỳnh Nguyễn Thị Xuân Quỳnh ♀
Xuân Quỳnh (6/10/1942 - 29/8/1988) tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh tại xã Văn Khê, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là phường La Khê, quận Hà Đông, Hà Nội), mất trong một vụ tai nạn giao thông tại đầu cầu Phú Lương, tỉnh Hải Dương, cùng với chồng Lưu Quang Vũ và con trai Lưu Quỳnh Thơ mới 13 tuổi. Chị vốn là diễn viên múa từ năm 13 tuổi, có thơ đăng báo năm 19 tuổi, trở thành nhà thơ chuyên nghiệp sau khi qua lớp bồi dưỡng những người viết văn trẻ khoá đầu tiên của Hội Nhà Văn Việt Nam (1962-1964). Xuân Quỳnh được coi là nhà thơ nữ hàng đầu của nửa cuối thế kỷ 20.
Chủ đề thơ Xuân Quỳnh thường là những vấn đề nội tâm: kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu gia đình... Hiện thực xã hội, sự kiện đời sống hiện diện như một bối cảnh cho tâm trạng. Do vậy thơ Xuân Quỳnh hướng nội, rất tâm trạng cá nhân nhưng không là thứ tháp ngà xa rời đời sống. Thơ chị là đời sống đích thực, đời sống của chị trong những năm đất nước còn chia cắt, còn chiến tranh, còn nghèo, còn gian khổ, là những lo toan con cái, cơm nước, cửa nhà của một người phụ nữ, người phụ nữ làm thơ thường ngược xuôi trên mọi ngả đường bom đạn. Xuân Quỳnh không làm ra thơ, không chế tạo câu chữ mà chị viết như kể lại những gì chị đã sống, đã trải. Nét riêng của Xuân Quỳnh so với thế hệ nhà thơ hiện đại cùng thời chính là ở khía cạnh nội tâm đó. Thơ chị là thơ mang tâm trạng. Thời ấy nhiều bài thơ thiên về phản ánh sự kiện, cốt để được việc cho đời, còn tâm trạng tác giả thường là tâm trạng chung của xã hội, vui buồn tác giả hoà trong vui buồn chung của công dân. Tâm trạng thơ Xuân Quỳnh là tâm trạng nảy sinh từ đời sống của chính chị, từ hoàn cảnh của riêng chị. Viết trên đường 20 là bài thơ chiến tranh nhưng lại mang nỗi lòng trăn trở xao xác của một người đang yêu. Có bài bề bộn chi tiết hiện thực như một ký sự. Những năm ấy, đúng là ký sự về đời sống Hà Nội những năm chống Mỹ, nhưng nó không thành ký mà vẫn là thơ do nỗi lòng riêng của tác giả đã tạo nên một mạch trữ tình xâu chuỗi các chi tiết rời rạc của ngày thường lại, tổ chức nó thành kết cấu của bài thơ. Xuân Quỳnh có tài toả lên các chi tiết ngẫu nhiên quan sát được từ đời sống một từ trường cảm xúc của nội tâm mình, biến các chi tiết đời trở nên thơ, có sức gợi, sức ám ảnh kỳ lạ (Trời trở rét, Không đề, Gió Lào cát trắng, Mùa hoa doi, Hoa cỏ may...).
Thơ Xuân Quỳnh giàu tình cảm, tình cảm sâu và tinh tế nhưng lẩn khuất phía sau tình cảm ấy lại là tư tưởng có tính khái quát, triết lý (Cơn mưa không phải của mình, Đồi đá ong và cây bạch đàn, Chuyện cổ tích về loài người, Những người mẹ không có lỗi...) Đấy là những triết lý nảy sinh từ đời sống, nó có tính thực tiễn, giúp ích thật sự cho người đọc nhận thức và xử lý việc đời, không phải thứ triết lý tư biện, viễn vọng mà chẳng dùng được vào việc gì.
Đề tài, đối với Xuân Quỳnh, không phải là quan trọng. Điều chị quan tâm là chủ đề. Thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng có tứ, chị dùng tứ để bộc lộ chủ đề. Đây là một đóng góp đáng quý của Xuân Quỳnh vì giai đoạn ấy thơ chúng ta rất lỏng về tứ. Xuân Quỳnh có năng khiếu quan sát. Chị quan sát bằng tất cả giác quan và phong phú trong liên tưởng. Chi tiết vốn quen thuộc bỗng trở nên mới lạ, tạo ý vị cho câu thơ. Một màu cỏ mùa xuân: “Cỏ bờ đê rất lạ/ Xanh như là chiêm bao”. Tiếng mưa trên lá cọ: “Mưa trên cọ bàng hoàng rồi vụt tạnh”.
Cũng có thể vì có tài quan sát mà ở một số bài Xuân Quỳnh ham tả, ham kể. Kể có duyên nhưng vẫn làm loãng chất thơ. Những bài thơ dài của Xuân Quỳnh thường dài vì rậm chi tiết.
Tác phẩm:
Thơ:
- Tơ tằm, chồi biếc (thơ in chung, NXB Văn học, 1963)
- Hoa dọc chiến hào (NXB Văn học, 1968)
- Gió Lào cát trắng (NXB Văn học, 1974)
- Lời ru trên mặt đất (NXB Tác phẩm mới, 1978)
- Bầu trời trong quả trứng (thơ thiếu nhi, NXB Kim Đồng, 1982)
- Sân ga chiều em đi (NXB Văn học, 1984)
- Tự hát (NXB Tác phẩm mới, 1984)
- Hoa cỏ may (thơ, 1989, Giải thưởng văn học 1990 của Hội Nhà văn)
- Truyện Lưu, Nguyễn (truyện thơ, NXB Kim Đồng, 1983)
- Thơ viết tặng anh (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1988)
Dịch:
- Bố ơi, bố làm con sợ đi (truyện tranh, Tamara Đăngblông, NXB Kim Đồng, 1989)
Truyện:
- Bao giờ con lớn (truyện tranh, NXB Kim Đồng, 1975)
- Mùa xuân trên cánh đồng (NXB Kim Đồng, 1981)
- Bến tàu trong thành phố (NXB Kim Đồng, 1984)
- Vẫn có ông trăng khác (tập truyện ngắn, NXB Kim Đồng, 1988)
Xuân Quỳnh (6/10/1942 - 29/8/1988) tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh tại xã Văn Khê, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là phường La Khê, quận Hà Đông, Hà Nội), mất trong một vụ tai nạn giao thông tại đầu cầu Phú Lương, tỉnh Hải Dương, cùng với chồng Lưu Quang Vũ và con trai Lưu Quỳnh Thơ mới 13 tuổi. Chị vốn là diễn viên múa từ năm 13 tuổi, có thơ đăng báo năm 19 tuổi, trở thành nhà thơ chuyên nghiệp sau khi qua lớp bồi dưỡng những người viết văn trẻ khoá đầu tiên của Hội Nhà Văn Việt Nam (1962-1964). Xuân Quỳnh được coi là nhà thơ nữ hàng đầu của nửa cuối thế kỷ 20.
Chủ đề thơ Xuân Quỳnh thường là những vấn đề nội tâm: kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu gia đình... Hiện thực xã hội, sự kiện đời sống hiện diện như một bối cảnh cho tâm trạng. Do vậy thơ Xuân Quỳnh hướng nội, rất tâm trạng cá…
Danh sách bài thơ
- Anh
- Bà bán bỏng cổng trường tôi
- Bà tôi
- Bài hát đắp đường
- Bài hát đừng có đợi
- Bài hát về cây
- Bài thơ cửa sổ
- Băn khoăn
- Bạn Lộc
- Bàn tay em
- Bao giờ ngâu nở hoa
- Bầu trời đã trở về
- Bầu trời trong quả trứng
- Bay cao
- Bến tàu trong thành phố
- Biển
- Bình Trị Thiên
- Cá chuối con
- Cái địa bàn của chú Điền
- Cái ngoan của Mí
- Cắt nghĩa
- Câu chuyện quanh vết bánh xe
- Cây bàng
- Cây chua me đất khóc
- Cây Hà Nội
- Cây trên đường
- Chị
- Chỉ có sóng và em
- Chiến hào
- Chiến thắng hôm nay
- Chiều ba mươi
- Chờ trăng
- Chồi biếc
- Chuồn chuồn báo bão
- Chuyện cổ tích về loài người
- Chuyện con đường sau những năm chống Mỹ
- Chuyện về những dòng nước
- Cỏ dại
- Cô diễn viên mới
- Cố đô
- Cô giáo của em
- Cô Gió mất tên
- Có một thời như thế
- Con chả biết được đâu
- Con gà
- Còn lại gì cho mùa xuân?
- Cơn mưa không phải của mình
- Con sáo của Hoàn
- Con yêu mẹ
- Cột đèn góc phố
- Dải băng xanh
- Dẫu em biết chắc rằng anh trở lại
- Đà Nẵng - gương mặt người, gương mặt biển
- Đá Ngũ Hành Sơn
- Đêm cuối năm
- Đêm trăng trên đất Mũi
- Đêm trở về
- Đi trốn đi tìm
- Đi với mùa xuân
- Đưa con đi sơ tán
- Đứa trẻ nhút nhát
- Em có đem gì theo đâu
- Em đến những nơi anh qua
- Gặp cha
- Ghét
- Gió Lào cát trắng
- Giữ lửa
- Gốc cây ngày bé
- Gửi lại thành phố nắng
- Gửi mẹ
- Gửi người xa vùng dâu
- Hát ru
- Hát ru chồng những đêm khó ngủ
- Hát với con tàu
- Hậu Giang
- Hậu phương
- Hoa cỏ may
- Hoa cúc
- Hoa cúc xanh
- Hoa dại núi Hoàng Liên
- Hoa ti-gôn
- Hoa tường vi
- Kể chuyện quả
- Khán giả của tôi
- Khát vọng
- Khi con ra đời
- Không bao giờ là cuối
- Không chịu tắm
- Không đề (I)
- Không đề (II)
- Không đề (III)
- Không đề (IV)
- Khúc hát những người anh
- Lại bắt đầu
- Lịch mới
- Lời ru
- Lời ru của mẹ
- Lời ru của trăng
- Lời ru trên mặt đất
- Lời từ giã của Trung đoàn Thủ đô
- Lòng mẹ
- Lòng yêu thủ đô
- Mái phố
- Mắt của đêm
- Màu hoa còn lại
- Mây
- Mẹ của anh
- Mẹ và con
- Mí ngoan hơn cái nấm
- Mí thích...
- Mí trông nhà
- Một năm
- Một ngày đi
- Một ước mơ
- Mưa
- Mùa đông nắng ở đâu?
- Mùa hạ
- Mùa hoa roi
- Mùa xuân mừng con thêm một tuổi
- Mùa xuân trên cánh đồng
- Muốn trăng luôn luôn tròn...
- Nếu chúng mình dậy sớm
- Nếu ngày mai em không làm thơ nữa
- Ngày em vào Đội
- Ngày mai thêm tuổi
- Ngày mai trời còn mưa
- Nghe rét đến, nhớ về Hà Nội
- Ngôi nhà ở lại
- Ngọn lửa tuổi thơ
- Ngủ ngoan bé ơi
- Ngủ ngoan ngủ ngoan
- Người cô của bé Hương
- Người làm đồ chơi
- Những bông hoa đầu tiên ra đảo
- Những bước chân
- Những cây dứa dại
- Những con đường tháng giêng
- Những năm ấy...
- Những năm tháng không yên: Các anh
- Những năm tháng không yên: Mười hai ngày
- Những năm tháng không yên: Nguồn gốc từ ngữ
- Những năm tháng không yên: Những miền đất
- Những năm tháng không yên: Nói với con
- Những năm tháng không yên: Trở lại mình
- Những năm tháng không yên: Về những bài thơ
- Những sự vật còn sống
- Nỗi buồn anh
- Nói cùng anh
- Nước mắt
- Ông nội và ông ngoại
- Phố huyện
- Que chuyền
- Quê hương
- Ru
- Sân ga chiều em đi
- Sẽ có mãi cô bé mười sáu tuổi
- Sóng
- Sóng
- Tại sao gà con sinh ra?
- Tặng quà chú hề
- Tập tầm vông
- Tháng ba viết cho chị
- Tháng năm
- Thành phố lạ
- Thành phố quê anh
- Thầy giáo dạy vẽ
- Thơ tình cho bạn trẻ
- Thơ tình cuối mùa thu
- Thơ tình tôi viết
- Thơ viết cho mình và những người con gái khác
- Thơ viết tặng anh
- Thơ vui về phái yếu
- Thời gian trắng
- Thư gửi bố ngoài đảo
- Thương về ngày trước
- Thuyền và biển
- Tiếng gà trưa
- Tiếng hát
- Tiếng mẹ
- Tình ca trong lòng vịnh
- Trăng hư lắm
- Trời trở rét
- Trời xanh của mỗi người
- Trưa hè
- Trung du
- Tự hát
- Tuổi ngựa
- Tuổi thơ của con
- Về đại hội
- Vết đạn trên tường
- Vì sao?
- Viết cho con ngày chiến thắng
- Vườn trong thư viện
- Ý nghĩ về thành phố lúc vào xuân
THÊM BÀI TRẢ LỜI:
Mục này để gửi các nội dung liên quan đến tác giả, bao gồm tiểu sử, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.
Đăng nhập để gửi bài trả lời cho tác giả này.