VIII. Tẩy nước cành dương
Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Phạm Thiên Thư
Bức thứ tám: (Kiều đi thăm am xưa - nơi Giác Duyên đã dựng lên để nàng tu - am đã bị đốt, có người khắc trên tường bức tranh hạc, y như giấc mộng hiên thu của nàng) Kiều ngồi thêu đoá phù dung Gió lay những tưởng trùng trùng sóng xanh Con chim cẩm vũ trên cành Gọi chi thêm lạnh mấy nhành mưa bay Ngoài đồng hiu hắt bông may Tàng mây ẩm đục vào ngày trôi mau (650) Đường xa ngơ ngác cờ lau Am xưa liệu có phai màu khói sương Nhớ ngày tẩy nước cành dương Cửa Không yên gởi phận sương dần dà Sáng trông mái cỏ đầy hoa Như bông tuyết rụng cánh sa hàng hàng Ngừng tay nàng nhớ mang mang Cành Thu ngó lá Thu vàng vèo rơi Tàng lan như cất tay vời Thầy đi quẩy đẫy mây trời về chưa (660) Hay là tan tác gió mưa Nền rêu cây trút lệ thưa hoa tường Kiều truyền sửa kiệu lên đường Hầu theo đôi trẻ, quả hương tráp đào Sóng ùn khói trắng non cao Bãi xa cỏ úa dâng trào nước sông Tưởng chiều mắt lệ ngùi trông Tưởng người cứu độ cánh hồng là may Lênh đênh vẫn mặt sông này Bè giăng lưới đón, thuyền vầy hoa đưa (670) Thành đàn mười nhánh tay mưa Ngày nay hoa trổ, ngày xưa lệ ngần Núi rừng đâu rõ Thu Xuân Cánh chim nào nhớ dấu chân cát buồn Trách lòng tự đúc nên khuôn Trách người chia những vai tuồng thấp cao Vui buồn trong giấc chiêm bao Rồi đem vọng tưởng khép vào tâm can Nhớ Thầy Văn giảng Kim Cang "Khổ đau mới biết con đàng khói mây (680) Ngại gì người đó ta đây Mùa Xuân cây cỏ sum vầy trăm hoa Lênh đênh ngọn nước phù sa Vượt lên, thể nhập đại hoà biển dâu Lấy từ đâu, để về đâu Chợ mây tan hợp bên cầu mấy phiên Sao con lắm nỗi buồn phiền Chẳng như suơng sớm trên triền non bay Mặc ai tâm vọng nọ này Ván cờ cao thấp chua cay gượng cuời" (690) *** Còn đang hướng mắt xa vời Núi xưa kiệu đã đến nơi hẹn lòng Tiếng chim thoảng lọt rèm hồng Sợi mưa bay ướp bềnh bồng hương lan Trông ra tủi hận vô vàn Am mây còn đống tro tàn nền trơ Rừng chiều lau lách bơ vơ Cây phơi cành lệ suơng mờ bao la Lòng Kiều lắm nỗi xót xa Trách mình quên mái hương xa bấy ngày (700) Thầy đi biền biệt ngàn mây Hỏi ai – hoa ngọn gió lay mấy nhành Mưa xoi rêu nhạt thềm xanh Cổng cao mối đắp, tường quanh chuột đùn Rì rào, dế gọi, trùng dun Vườn ngoài cỏ dại mấy lùm vươn cao Sân rêu vương dấu hài nào Không lâu hẳn có người vào đốt am Nàng truyền mấy đứa a hoàn Bệ xưa quét dọn, khói nhang lửa đèn (710) Kiều đang thơ thẩn quanh thềm Bỗng dưng thấy bức tường bên tạc hình Khắc con tiên hạc uốn mình Phiêu diêu hương nguyệt, lung linh vân đằng Rêu mờ, bụi phủ, nhện giăng Hạt mưa lấp lánh như hàng lệ rơi Chừng nghe tấc dạ bồi hồi Khác chi mộng thoảng đêm ngồi hiên Thu Cầu treo sương khói âm u Bước chân hạc nổi tít mù trăng sao (720) Bây giờ trước bức tường nao Vết hài nét hoạ thanh tao – cùng người Cứ xem nét ẩn nét tươi Chẳng từ đại chí, cũng nơi đạo trường Vết hài còn đậm dấu suơng Bức tranh rõ nét trên tường mới đây Hay là Tam Hợp sư Thầy Du phương để bức hoạ này nhủ ta Ý ngài thức tỉnh trần sa Quẩn quanh vọng tưởng vào ra ngại ngần (730) Sân ngoài mưa đọng dấu chân Tường trơ hạc cuốn phù vân rã rời Giác Duyên thầy khuất phương trời Mây ùn cửa núi, hoa rơi động ngoài Non xưa am vẳng u hoài Cây trơ sắc nhớ, cỏ dài ngọn trông Biết đâu đã xả bụi hồng Hoá thân triền núi bãi sông nào chừng Sợi mưa ngơ ngác rưng rưng Hoa nghiêng lắng gió cây rừng vọng chim (740) Trên sông đôi giải mây chìm Nắng hoe tà áo tóc in dòng huyền *** Kiệu phu chờ thỉnh ý trên Thơ đề thoắt uốn tay tiên bốn dòng Vai nghiêng vắt cạn lệ lòng Tơ Thu cuộn thẫm một vòng tà dương Nẻo về lối tím khe sương Hoa chân núi, lệ ven đường cùng rơi Thì thào khói sóng ùn hơi Nhạn sa dấu cát, mây dời sắc non (750) Đường dài thêm nỗi héo hon Cội lan đỉnh biếc hương còn vuơng theo
Bình luận nhanh 0
Chưa có bình luận nhanh nào