Quách Tấn ♂
Quách Tấn (4/1/1910 - 21/12/1992) là tên thật, tự Đăng Đạo, hiệu Trường Xuyên, các tiểu hiệu là Định Phong, Cổ Bàn Nhân, Thi Nại Thị, Lão giữ vườn, sinh tại Bình Định. Trong nhóm thơ Bình Định hồi ấy, gọi là Bàn thành tứ hữu (bốn người bạn thơ ở thành Đồ Bàn), ông cao niên hơn cả, hơn Hàn Mặc Tử hai tuổi, hơn Yến Lan năm tuổi, hơn Chế Lan Viên tới mười tuổi... Các bạn thơ đó của ông là những cây bút kiệt xuất của phong trào Thơ Mới sôi động khi ấy. Nhưng Quách Tấn lại làm thơ theo lối cũ: thơ luật Đường. Người ta coi Hàn là rồng, Chế là phượng, Yến Lan là lân, cả ba tượng trưng cho tung hoành, đĩnh đạc thì ông tự nhận mình là rùa, tượng trưng chậm chạp và vất vả (Trên đình đội hạc, dưới chùa đội bia) cho đủ long ly quy phụng. Hai tập thơ đầu Quách Tấn xuất bản lúc Thơ Mới đang thắng thế hầu hết là thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt.
Thơ Đường của Quách Tấn hàm súc, tinh xảo và cũng khá cầu kỳ. Điều thú vị và cũng là lý do nổi tiếng của Quách Tấn là thể thơ thì cổ nhưng tình thơ lại mới. Cảm xúc của Quách Tấn có nhiều tương đồng, tương ứng với các nhà thơ lãng mạn trong phong trào Thơ Mới. Ở tập thơ đầu Một tấm lòng (1939) do chính Hàn Mặc Tử đề tựa, Quách Tấn có cái phóng túng trong cảm hứng rất mới ngay lúc lạc hồn vào cõi xưa:
Giấc mộng nghìn xưa đang mải mê Vùng nghe cảm hứng báo thơ về.Một động từ Vùng cho thấy hơi men lãng mạn của thời đại mới giấu trong giọng thơ xưa cũ. Nhiều khi không giấu được, Quách Tấn lẫn vào các nhà thơ lãng mạn. Đứng giữa trời Đà Lạt một đêm sương, nghe hơi mát chạm vào da thịt, nhà thơ y phục xưa thành người hiện đại đa tình và mạnh bạo khám phá cảm giác:
Trời đất tan ra thành thuỷ tinh Một bàn tay ngọc đẫm hương trinh Âm thầm mơn trớn bên đôi má Hơi mát đê mê chạy khắp mình.Tập Mùa cổ điển (1941) thơ Đường càng được vận dụng, cả về tỷ lệ bài lẫn chất lượng câu thơ. Đối ứng nghiêm túc và đài các như thơ bà Thanh Quan:
Gió vàng cợt sóng sông chau mặt Mây trắng vờn cây núi bạc đầu.Có bài còn chất nặng điển cố (Đêm thu nghe quạ kêu), nhưng cũng có nhiều bài đạt được vẻ đẹp ước lệ mẫu mực của luật Đường lại thoải mái thanh thoát mang tình ý hiện thực:
Tình cũng lơ mà bạn cũng lơ Bao nhiêu khăng khít bấy ơ hờ Sầu mong theo lệ khôn rơi lệ Nhớ gởi vào thơ nghĩ tội thơ.Những chỗ Quách Tấn sính tạo không khí cổ điển bằng chữ (dùng nhiều từ Hán) hoặc bằng điển cố cầu ky,ì bài thơ thường bị đứt mối giao lưu với bạn đọc. Nhưng hoa tỉ muội, cỏ vương tôn, rèm liễu, vó câu... ngỡ sang trọng lại có gì tội nghiệp của kẻ lạc thời. Cũng phải thừa nhận những lợi thế của một thể thơ có sức sống mạnh như thơ Đường, sức vang ngân của các phối âm 7 chữ trong câu, lối dẫn dắt tung hoành nhờ phép kết cấu phá thừa thực luận kết và nhất là phép đối, đối câu, đối vế, đối ý, đối chữ. Nhưng cũng cần phá bỏ những câu thúc của ước lệ dễ dẫn đến mòn sáo và giả tạo. Điều đó không phải lúc nào Quách Tấn cũng làm được. Càng thấy lý do xuất hiện và toàn thắng của Thơ Mới là tất yếu. Người ta yêu thơ Quách Tấn do chất cảm xúc của hồn ông và cũng do ông là thứ quả hiếm còn sót lại của mùa xưa. Nửa thế kỷ nay, khi Thơ Mới đã thành thơ cũ, cuộc đời mỗi nhà thơ thời ông đã qua nhiều dâu bể khác nhau, Quách Tấn vẫn thuỷ chung với giọng xưa. Ông bị quanh quẩn trong chất liệu, hình ảnh cũ, thơ ông không đủ sức theo kịp những biến động tâm tư, cảm xúc của lớp người mới. Ông bị đừng lại ở Mùa cổ điển. Cái hay của các tập thơ sau chưa vượt được cái hay đã có trong hai tập thơ đầu mà nỗi u hoài trong lòng người viết lại đầy hơn:
Đồi cao buông tiếng địch Bóng tháp ngập hoàng hôn Ông lão dừng tay sách Hiu hiu buồn cuối thôn.Quách Tấn tạ thế ngày 21-12-1992. Không biết sau ông có hồn thơ nào đủ làm mới lại giọng thơ xưa bằng sức cảm sức nghĩ của tình ý mới? Y phục vốn đổi thay theo lối sống. Khó lắm thay! Mà có nên chăng? Các tác phẩm: - Xứ trầm hương - Bước lãng du - Bóng ngày qua (hồi ký) - Trường Xuyên thi thoại: Những bài thơ kỷ niệm - Một tấm lòng - Trăng ma lầu Việt - Mùa cổ điển - Những tấm gương xưa - Lữ Đường thi: Lữ Đường di cảo thi tập - Tố Như thi - Nước non Bình Định
Quách Tấn (4/1/1910 - 21/12/1992) là tên thật, tự Đăng Đạo, hiệu Trường Xuyên, các tiểu hiệu là Định Phong, Cổ Bàn Nhân, Thi Nại Thị, Lão giữ vườn, sinh tại Bình Định. Trong nhóm thơ Bình Định hồi ấy, gọi là Bàn thành tứ hữu (bốn người bạn thơ ở thành Đồ Bàn), ông cao niên hơn cả, hơn Hàn Mặc Tử hai tuổi, hơn Yến Lan năm tuổi, hơn Chế Lan Viên tới mười tuổi... Các bạn thơ đó của ông là những cây bút kiệt xuất của phong trào Thơ Mới sôi động khi ấy. Nhưng Quách Tấn lại làm thơ theo lối cũ: thơ luật Đường. Người ta coi Hàn là rồng, Chế là phượng, Yến Lan là lân, cả ba tượng trưng cho tung hoành, đĩnh đạc thì ông tự nhận mình là rùa, tượng trưng chậm chạp và vất vả (Trên đình đội hạc, dưới chùa đội bia) cho đủ long ly quy phụng. Hai tập thơ đầu Quách Tấn xuất bản lúc Thơ Mới đang thắng thế hầu…
Danh sách bài thơ
- Âm ba
- Anh buộc đời em
- Ao trưa
- Ba hữu lệ
- Ba ngả sông mờ
- Bất tận
- Bên ao
- Bến cũ
- Bên gác mộng
- Bên giàn mướp
- Bến lạ thu bay
- Bên sông
- Bên sông
- Bồi hồi ngọn bấc
- Bóng giai nhân
- Bóng khuya
- Bóng trời xưa
- Bóng xuân
- Bước cùng
- Buồn thương
- Cài trúc
- Cảm thán
- Cảm thu
- Cảnh đâu
- Cành thơm
- Chén bình minh
- Chép thơ
- Chị em
- Chiếc lá rơi
- Chiến sĩ
- Chiều xuân
- Chim chóp mào
- Chốn ẩn
- Chuông khuya
- Chút dư âm
- Chút lòng
- Côn giang tức cảnh
- Con sâu cửu
- Cửa sổ nhìn sương
- Dẫu chẳng yêu nhau
- Dừng tay bút
- Dưới liễu chờ xuân
- Đà Lạt đêm sương
- Đá vọng phu
- Đá vọng phu
- Đắp mộ
- Đau thương
- Đề bia mộ
- Đêm mơ
- Đêm qua Hưng Thịnh
- Đêm rằm tháng năm
- Đêm tái phùng
- Đêm tâm sự
- Đêm thu
- Đêm thu nghe quạ kêu
- Đêm tình
- Đêm trăng lạnh
- Đêm xuân
- Đèn khuya
- Đèn tàn bóng mộng
- Đìu hiu
- Đối cảnh
- Đổi mới
- Đợi mộng
- Đồng bằng Bình Định
- Động hoàng hôn
- Đồng quê
- Giấc sen
- Giao cảm
- Giao thừa
- Giáp mộng
- Giếng cúc
- Gió khuya
- Giọt sương mai
- Gởi lòng
- Gửi Nguyễn Hiến Lê
- Hạc điểm canh
- Hiu quạnh
- Hoạ “Chơi thuyền gặp mưa”
- Hoa nở trắng
- Hồi cư
- Hôm nay
- Hòn Gian
- Hòn Kho bài 1
- Hòn Kho bài 2
- Hòn Nghiên
- Hư tâm
- Hương vườn cũ
- Khắc sâu dần Sống sót
- Khóc con I
- Khóc con II
- Khóc con III
- Khóc con IV
- Khóc con V
- Khóc con VI
- Không đề
- Không nỡ
- Khuya vắng
- Lại bị an trí
- Lại nhắn ai
- Lại tản cư
- Làm trai
- Lặng lẽ
- Lánh cư
- Lạnh lùng
- Lẻ điệu Tặng một nghệ sĩ
- Lịu địu
- Lòng giếng thẳm
- Lòng thiên cổ
- Lữ cảm
- Lửa trăng
- Mãi còn
- Mái đời
- Mai già nở lạnh
- Màu quê
- Màu trưa
- Mộ Bằng Phi
- Mong đợi
- Mộng thấy Hàn Mạc Tử
- Một buổi trưa mùa thu
- Nén lòng
- Nến thắp tâm tư
- Nẻo quạnh
- Nét thương tâm
- Ngậm lòng
- Nghĩa trủng
- Nghiêng xanh
- Ngõ trúc
- Nhắn ai
- Nhắn nhủ
- Nhớ nhung
- Nhớ Tản Đà
- Nhớ thương
- Nở xuân
- Nôn nao
- Nụ hương
- Nửa mộng
- Nước chảy qua đèo
- Nước mẩy dòng thu
- Nương gối
- Ông thích chi
- Qua xuân
- Qua xuân
- Rót hương
- Rụng giọt khuya
- Rung phiếm
- Sân mận
- Sân trưa
- Say nắng
- Song chiều
- Sông chiều
- Suối Đá Trải bài 1
- Suối Đá Trải bài 2
- Suối Đá Trải bài 3
- Tay súng
- Tết Tân Mùi
- Thâm u
- Tháo kính
- Thay bông
- Theo dòng
- Thi Nại hoài cổ
- Thơ về Gọi kêu
- Thứ Hương Sơn
- Thu sang
- Thu Tràng An
- Thương ai
- Thương thu
- Tiên trên đời
- Tiếng cửi
- Tiếng địch hoàng hôn
- Tiếng lòng khuya
- Tiếng ngân
- Tiếng vàng khô
- Tìm đâu
- Tình cố nhân
- Tình cố viên
- Tình đêm mưa
- Tình hoa
- Tình Khiêm Cung
- Tình mận
- Tĩnh mịch
- Tình ong mật
- Tình phong lan
- Tình thu
- Tĩnh toạ
- Tình xưa
- Trơ trọi
- Trời chiều
- Trời đông
- Trời khuya
- Trong sương
- Tương lân
- Túp lều thơ Thăm một thi sĩ
- Tuy Hoà
- Về thăm nhà cảm tác
- Vì tơ
- Viếng mộ bạn
- Viếng thành Huế sau ngày khói lửa
- Vịnh cảnh Dalat
- Vịnh Hương Sơn
- Vô thường
- Vọng Cô Tô
- Vườn chiều
- Vườn quê
- Xí xoá
- Xuân quạnh
THÊM BÀI TRẢ LỜI:
Mục này để gửi các nội dung liên quan đến tác giả, bao gồm tiểu sử, giới thiệu, thảo luận, bình luận dưới dạng bài viết hoàn chỉnh. Các bình luận ngắn xin vui lòng sử dụng mục Bình luận nhanh.
Đăng nhập để gửi bài trả lời cho tác giả này.